Một số giải pháp giảm nghèo và giảm nghèo bền vững đối với các tộc người thiểu số ở khu vực Tây Nguyên hiện nay

(Mặt trận) - Thực tế nhiều năm triển khai công tác xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên, cho thấy vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây khó khăn và bất trắc về con người và kinh tế, cản trở không nhỏ đến tiến trình và nỗ lực giảm nghèo của người dân và cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Bài viết phân tích một số giải pháp xóa đói, giảm nghèo đặc thù đối với vùng dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu, tạo cơ sở cho phát triển bền vững khu vực này.

Kết quả trong công tác xóa đói giảm nghèo ở khu vực Tây Nguyên

Xoá đói, giảm nghèo là công tác quan trọng trong tiến trình phát triển bền vững ở khu vực Tây Nguyên nói riêng và ở Việt Nam nói chung. Triển khai chủ trương của Đảng thông qua các chương trình, dự án, chính sách đầu tư của Nhà nước, đến nay, kinh tế Tây Nguyên đã có bước chuyển dịch mạnh mẽ cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả.

Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số đã từng bước được cải thiện rõ rệt; hơn một nửa số thôn làng từ nghèo đói đã vươn lên đạt mức sống trung bình và khá, nhiều hộ gia đình đã giàu có, trở thành mô hình sáng về phát triển kinh tế trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực của khu vực Tây Nguyên trong những năm qua. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp để thúc đẩy, phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, nhất là việc giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào nghèo tại chỗ là vấn đề hết sức quan trọng trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong những năm qua, Tỉnh uỷ và Ủy ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình, chỉ thị và kế hoạch xoá đói giảm nghèo địa phương. Trên cơ sở văn bản, chính sách của cấp tỉnh, hầu hết các huyện, thành phố của khu vực Tây Nguyên đã xây dựng, ban hành Chương trình giảm nghèo. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, các hoạt động đã được triển khai ở khắp khu vực Tây Nguyên và đạt những kết quả quan trọng.

Tuy nhiên đến nay, nghèo đói là vấn đề xã hội nổi cộm và bức xúc ở khu vực Tây Nguyên và không giống nhau ở các dân tộc. Nghèo đói không còn là vấn đề nan giải đối với đồng bào người Kinh mà tập trung chủ yếu ở các dân tộc thiểu số, nhất là các dân tộc thiểu số tại chỗ. Để thực hiện hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo, những năm qua, cùng với nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, các tỉnh Tây Nguyên đã huy động được nhiều nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trong vùng. Trung bình mỗi năm, Tây Nguyên huy động được 650 tỷ đồng hỗ trợ sản xuất, giải quyết việc làm cho người dân. Nhờ đó công tác xóa đói giảm nghèo ở khu vực Tây Nguyên đạt nhiều kết quả tích cực.

Cụ thể, giai đoạn 2001-2005, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 21,83% xuống còn 8,67%, bình quân giảm 2,6%/năm theo chuẩn năm 2000. Giai đoạn 2006-2010, giảm từ 22,85% xuống còn 10,34%, bình quân giảm 3,16%/năm theo chuẩn năm 2005. Riêng vùng dân tộc thiểu số từ 47,8% năm 2006 đến nay giảm xuống còn 19,9%, cơ bản giải quyết tình trạng thiếu đói. Tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng theo chuẩn nghèo của Chính phủ trong cả giai đoạn giảm bình quân 2,8%/năm. Gia Lai cũng là một trong những địa phương thực hiện hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo. Tính đến cuối năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 16,55%, giảm 3,16% so với 2015. Mặc dù đạt được những thành tựu ấn tượng trong thập niên qua, nhưng Tây Nguyên vẫn là một trong ba khu vực nghèo nhất nước (Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ), nhưng tốc độ giảm nghèo của Tây Nguyên so với các vùng lãnh thổ khác không ổn định, thể hiện ở sự thay đổi và dao động từ vị trí nghèo thứ hai trong 3 năm đầu, sang vị trí nghèo thứ ba trong ba năm tiếp theo, để rồi quay trở lại vị trí nghèo thứ hai trong hai năm còn lại. Thực tế đó cho thấy, khu vực Tây Nguyên còn tiềm ẩn những yếu tố khó khăn, bất trắc về con người và kinh tế, cản trở không nhỏ đến tiến trình và nỗ lực giảm nghèo của người dân nói chung và cộng đồng các dân tộc thiểu số nói riêng.

Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau của nhiều ngành khác nhau, đã có nhiều giải pháp được đề xuất nhằm xoá đói giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Có những giải pháp thuần tuý mang tính khoa học công nghệ của các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủ công nghiệp, lại có những giải pháp mang tính chuyên ngành, như: các giải pháp về y tế, giáo dục, văn hoá,... Vấn đề là những giải pháp đó đã đủ chưa và áp dụng, triển khai các giải pháp đó như thế nào để phù hợp và phát huy hiệu quả với đối tượng dân cư có nhiều đặc thù và trở lực như các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên.

Một số giải pháp xoá đói giảm nghèo đặc thù ở các tộc người thiểu số tại chỗ khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Một là, xây dựng con người Tây Nguyên mới có đủ khả năng thực hiện xoá đói giảm nghèo hiệu quả

Một trong những nguyên nhân cơ bản và xuyên suốt dẫn đến tình trạng nghèo đói, cũng như tình trạng kém hiệu quả của các chương trình dự án xoá đói giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên là trình độ phát triển kinh tế - xã hội của người dân còn hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Đó là nguyên nhân và cũng là hệ quả của đói nghèo. Con người tại chỗ Tây Nguyên tuy có phẩm chất nhân văn tốt đẹp, nhưng còn chưa đủ năng lực cần thiết để có thể sẵn sàng đấu tranh chống lại đói nghèo như người Kinh và một số dân tộc mới đến khác. Công cuộc xoá đói giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, cũng như việc thực hiện các giải pháp xoá đói giảm nghèo khác chỉ có thể thành công trên cơ sở quan trọng đầu tiên là thực hiện tốt công tác xây dựng con người mới. Nếu cứ tiếp tục đầu tư tiền của và công sức theo cách duy ý chí mà thiếu nghiên cứu và lý giải các cơ sở khoa học về trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp kém của các dân tộc, để xây dựng trong họ con người mới thì không những rất khó xoá đói giảm nghèo, mà còn vô hình chung tạo cho người dân tâm lý ỷ lại Nhà nước, nguy hại hơn là triệt tiêu ý chí tự vươn lên cũng như nội lực phát triển của họ. Vì thế, xây dựng con người mới có thể coi là giải pháp trước hết và then chốt nhất, hay là giải pháp của những giải pháp, giải pháp cần đi trước một bước để xoá đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên. Xây dựng con người mới ở Tây Nguyên là cải tạo và xây dựng con người tại chỗ Tây Nguyên từ chỗ còn bảo lưu nhiều tàn tích của xã hội manh nha có giai cấp, với hoạt động kinh tế còn mang nặng tính tự nhiên, tự cấp tự túc, dựa vào rừng, lệ thuộc chặt chẽ vào rừng, sang con người có đủ tri thức về kinh tế, xã hội và khoa học - kỹ thuật mới có thể từng bước làm chủ tự nhiên và có đủ năng lực tự xoá đói giảm nghèo và triển khai hiệu quả các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo.

Trong xây dựng con người mới, việc quan trọng đầu tiên là đẩy mạnh công tác bồi dưỡng và đào tạo cán bộ. Sự thành công hay thất bại của các hoạt động kinh tế - xã hội suy cho cùng là do con người, đội ngũ cán bộ địa phương quyết định, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”1, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”2.

Hai là, nâng cao năng lực xoá đói giảm nghèo cho cán bộ và người dân địa phương

Việc đưa gạo xuống cứu đói cho người dân như xưa nay vẫn làm là cần thiết, nhưng chỉ có ý nghĩa nhất thời. Việc triển khai theo lối đưa các dự án từ trên xuống mà ít quan tâm tới nhu cầu và năng lực của người dân tại chỗ thường đem lại hiệu quả thấp. Năng lực tự xoá đói giảm nghèo hạn chế có thể coi là một trong những trở lực đáng kể của công tác giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên. Trở lực này thể hiện ở chỗ, người dân có tiền nhưng không biết sử dụng thế nào để thoát nghèo, có đường giao thông nhưng không biết phát huy để thoát nghèo, có đất mà không biết phải trồng gì để thoát nghèo. Với đối tượng người dân tộc thiểu số, sắm cho họ chiếc cần câu cá vẫn chưa đủ mà cần giúp đỡ để họ có thể tự tìm ra cách câu cá phù hợp và tốt nhất. Nói cách khác, cần tăng cường sự tham gia chủ động và tích cực của người dân vào toàn bộ các bước của các chương trình, dự án giảm nghèo, từ điều tra, thu thập thông tin nghèo đói, lập kế hoạch giảm nghèo, đến thực hiện kế hoạch giảm nghèo và giám sát, đánh giá kết quả của kế hoạch giảm nghèo. Chỉ có thể đánh giá nhu cầu giảm nghèo của người dân thông qua ý kiến và sự tham gia của chính họ vào quá trình giảm nghèo. Vì thế, đã đến lúc cần làm cho người nghèo nhận thấy, giảm nghèo là công việc của chính họ, khắc phục tâm lý ỷ lại trông chờ vào Nhà nước, làm cho họ từ thụ động chuyển sang chủ động trong giảm nghèo. Nói cách khác, cần làm cho người nghèo từ chỗ quen đặt ra câu hỏi “Dự án cho người dân cái gì” sang chỗ đặt câu hỏi “Người dân phải làm gì và làm như thế nào để giảm nghèo nhanh và bền vững”.

Cách thức tiến tới mục tiêu trên là thông qua các hình thức cụ thể, như: triển khai các dự án thí điểm nhỏ, mở các lớp tập huấn, đào tạo, vừa học vừa làm, học trong khi làm, tham quan mô hình từ các nơi khác có điều kiện tự nhiên và dân cư tương tự,... Cùng với đó là cần khắc phục hàng loạt các khuynh hướng chưa phù hợp trong triển khai công tác giảm nghèo cho người dân như làm hộ, cho cá, không cho cần câu. Nâng cao năng lực giảm nghèo cho người dân các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên không thể không chú ý cải tạo các phong tục tập quán sản xuất đã lỗi thời, mang tính tự nhiên, tự cấp, tự túc là chính, để giúp người dân chuyển sang làm quen với kỹ thuật và quy trình sản xuất mới, đặc biệt ưu tiên trước hết cho làm quen với kỹ thuật và quy trình sản xuất các loại vật nuôi và cây trồng mới phù hợp với điều kiện tự nhiên và trình độ dân trí.

Ba là, chú trọng phát huy nguồn lực con người trong xoá đói giảm nghèo

Công tác xoá đói, giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên hiện nay vẫn thiên về quan điểm tiếp cận thuần vật lực, trong đó, coi đầu tư tiền của, vật tư, đất đai,... do Nhà nước đưa xuống là yếu tố quyết định, mà chưa chú ý đúng mức đến vai trò của nguồn lực con người tại chỗ. Điều này dẫn đến tư tưởng thụ động, trông chờ ỷ lại vào đầu tư của Trung ương của cán bộ và người dân địa phương là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo. Đã đến lúc cần quán triệt quan điểm kết hợp nguồn vật lực với nguồn nhân lực, trong đó, coi nguồn lực con người tại chỗ là yếu tố phát triển quan trọng không kém, thậm chí quan trọng hơn yếu tố nguồn lực vật chất từ bên ngoài đưa vào. Theo đó, bằng tuyên truyền và bằng thực tiễn, chuyển nhận thức người dân từ chỗ quen đặt câu hỏi: Nhà nước đưa xuống cho người nghèo cái gì và bao nhiêu? sang chỗ quen đặt câu hỏi: Mình (người dân) có thể làm được gì và làm như thế nào để giảm nghèo cho chính mình.

Bốn là, tạo điều kiện để các dân tộc tại chỗ và các dân tộc mới đến học hỏi lẫn nhau trong quá trình xoá đói giảm nghèo

Kinh nghiệm những năm qua cho thấy, bên cạnh những tác động tiêu cực, sự có mặt của các dân tộc mới đến đã đem lại nhiều tác động tích cực cho người dân tại chỗ, đặc biệt là cung cách làm ăn và kỹ thuật sản xuất mới. Trong đa số các trường hợp, so với ở các vùng thuần dân tộc tại chỗ, ở các vùng xen cư dân tộc tại chỗ - dân tộc mới đến, sự có mặt của người dân mới đến đã thúc đẩy nhanh hơn nhiều quá trình biến các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước thành hiện thực ở các làng dân tộc tại chỗ. Vì thế, xen cư dân tộc tại chỗ - dân tộc mới đến có thể coi là mô hình ưu việt để thúc đẩy nhanh quá trình xoá đói giảm nghèo cho các làng dân tộc tại chỗ vùng sâu vùng xa, nhất là vùng biên giới. Đây là vấn đề cần chú ý trong quá trình quy hoạch dân cư trong thời gian tới. Vấn đề đặt ra là, rút kinh nghiệm những năm qua, cần có định hướng và giải pháp cụ thể để khắc phục tác động tiêu cực và phát huy tác động tích cực của bộ phận cư dân mới đến, trong đó, đáng chú ý là: Trả lời thoả đáng các câu hỏi đưa ai đến, đến làm gì và đến bao nhiêu là đủ; tổ chức cho các làng mới đến và tại chỗ giao lưu, kết nghĩa với nhau để người dân mới đến giúp đỡ người dân tại chỗ trong mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực kỹ thuật sản xuất và phát triển kinh tế.

Năm là, khắc phục tình trạng thiếu đất sản xuất

Vấn đề đất đai đang nổi cộm ở Tây Nguyên trong gần ba thập niên qua là mâu thuẫn giữa sở hữu tập thể truyền thống của cộng đồng làng với sở hữu toàn dân của Nhà nước, là sự thay đổi quyền của các dân tộc tại chỗ với đất rừng. Hậu quả là, một bộ phận người dân thiểu số tại chỗ thiếu đất sản xuất, dẫn đến hoặc tái du canh trở lại, hoặc di cư tự do từ vùng này sang vùng khác, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống cũng như mối quan hệ dân tộc. Một số giải pháp cụ thể cần chú ý là giao đất, giao rừng cho buôn làng, cấp đất cho người dân tại chỗ thiếu đất bằng những nguồn khác nhau, tiếp tục thu hút lao động tại chỗ vào làm công nhân trong các nông, lâm trường sản xuất kinh doanh tốt.

Sáu là, củng cố, kiện toàn và nâng cao vai trò của bộ máy chính quyền và đoàn thể cấp xã trong thực hiện xoá đói giảm nghèo

Thực tế những năm qua cho thấy, để các chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo đến được với dân và đạt hiệu quả, vai trò của bộ máy chính quyền và các đoàn thể cấp xã là rất quan trọng. Xã là địa bàn trực tiếp thực thi các chính sách và giải pháp xoá đói, giảm nghèo, chứ không phải huyện, tỉnh hay bất cứ đơn vị hành chính nào khác. Nói cách khác, các chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của chính quyền và các đoàn thể cấp xã. Ngoài việc củng cố, kiện toàn, cần coi trọng và nâng cao vai trò của hệ thống chính quyền và đoàn thể cấp xã, trong đó, quan trọng và có ý nghĩa then chốt là, một mặt thông báo để xã biết và theo dõi toàn bộ các chương trình dự án xoá đói, giảm nghèo do Nhà nước đầu tư xuống xã, mặt khác, cố gắng đưa chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo xuống cho xã triển khai thực hiện, coi xã là đơn vị chủ đầu tư, khắc phục tình trạng đã và đang diễn ra ở một số địa phương là chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo triển khai tại xã, nhưng chính quyền, đoàn thể cấp xã không được tham gia và đơn vị chủ đầu tư chỉ là cấp huyện trở lên.

Để giải quyết vấn đề này, cùng với việc triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách của Nhà nước, một trong những giải pháp cơ bản đang được các tỉnh Tây Nguyên tích cực thực hiện là đẩy mạnh công tác thu hút nguồn lực đầu tư thông qua việc kêu gọi các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, quyết tâm xây dựng Tây Nguyên trở thành vùng kinh tế trọng điểm, có tốc độ tăng trưởng nhanh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc; đặc biệt đời sống văn hóa, trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện; bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng; sớm đưa nông thôn Tây Nguyên thoát ra khỏi tình trạng chậm phát triển, nghèo nàn, lạc hậu, từng bước phát triển bền vững, ổn định khu vực này, đây là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước và Chính phủ ta đặc biệt quan tâm trong những năm qua.

Nguyễn Duy Dũng

ThS, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều