Nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Cơ hội và thách thức

(Mặt trận) - Sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, đồng thời đã chủ động mở cửa nền kinh tế và tích cực đàm phán thương mại quốc tế. Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế quốc tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới.

Nông nghiệp Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế

Cho tới nay, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ đối tác với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã ký được 15 Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương với 53 quốc gia khác nhau và thỏa thuận đối xử tối huệ quốc với 172 quốc gia trong khuôn khổ tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong đó, CPTPP và EVFTA là các FTA thế hệ mới, cấp độ tiêu chuẩn cao hơn, cân bằng lợi ích, toàn diện với những nội dung thương mại phi truyền thống như các vấn đề về lao động, công đoàn, mua sắm chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, bảo vệ môi trường.

Năm 2015, Chính phủ đã ban hành Quyết định 1684/2015/QĐ-TTg về chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2030, trong đó Việt Nam thể hiện quyết tâm hội nhập, mở cửa và tuân thủ các cam kết quốc tế. Ngành nông nghiệp Việt Nam đã và đang chuyển dịch mạnh sang sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của gần 100 triệu dân và xuất khẩu. Thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại, Việt Nam đã tăng cường xuất khẩu các sản phẩm nông sản có lợi thế cạnh tranh, đồng thời nhập khẩu những nông sản chưa có thế mạnh. Quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp đã tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất nông sản trong nước, tạo thay đổi trong cơ cấu sản xuất, tập trung vào các mặt hàng Việt Nam có lợi thế và năng lực cạnh tranh quốc tế, tăng trưởng thương mại và đa dạng hóa thị trường, sản phẩm xuất khẩu; tạo cơ hội việc làm; tăng thu nhập cho nông dân; cải thiện đời sống, tăng phúc lợi cho người tiêu dùng và phát triển mối quan hệ đa phương, hiệu quả với nhiều quốc gia trên thế giới. Nông nghiệp trở thành bệ đỡ cho nền kinh tế trong khủng hoảng và giữ vị trí quan trọng trong ổn định chính trị, kinh tế - xã hội tại Việt Nam.

Nông sản Việt Nam thiết lập được vị trí quan trọng trên thị trường thế giới

Hội nhập kinh tế quốc tế đã giúp ngành nông nghiệp Việt Nam cũng như các ngành khác tiếp cận cánh cửa thế giới một cách mạnh mẽ và tham gia thành công vào nhiều chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông sản toàn cầu với tổng kim ngạch thương mại nông, lâm, thủy sản chiếm khoảng 1,5%1 tổng giá trị thương mại nông, lâm, thủy sản thế giới và luôn nằm trong nhóm 15 quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới và đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á. Xuất khẩu nông sản của Việt Nam liên tục tăng trưởng và thặng dư, góp phần cải thiện cán cân thương mại. Giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 48,6 tỷ USD năm 2021 và ước đạt trên 50 tỷ USD trong năm 2022. Việt Nam đã có 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ đô la Mỹ2, trong đó có 5 mặt hàng (trái cây, hạt điều, cà phê; tôm; đồ gỗ) đạt kim ngạch trên 3 tỷ đô la Mỹ. Sản phẩm xuất khẩu ngày càng đa dạng, được chú trọng nâng cao chất lượng, tăng hàm lượng chế biến và tăng giá trị (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2022). Sản phẩm sơ chế, chế biến chiếm 44% tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2020 của Việt Nam, tương đương 18,17 tỷ đô la Mỹ (UNComtrade). Xuất khẩu tiêu và điều đứng thứ nhất, sắn và sản phẩm từ sắn đứng thứ 2, gạo đứng thứ ba, cà phê đứng thứ năm thế giới (UNComtrade, 2020).

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tăng trưởng liên
tục và ở mức cao (Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, *là số kế hoạch
dự kiến.)
Tăng trưởng ở các thị trường khá tốt và nhiều tiềm năng
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)
Đến nay, nông sản Việt Nam tiếp cận được đến 196 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đặc biệt đã tiếp cận được các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Canada. Mức tăng trưởng tại các thị trường là khá tốt và tiếp tục còn nhiều tiềm năng để mở rộng kim ngạch.

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường và phát huy lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Tỷ trọng các mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ, rau quả, hạt điều đã tăng lên trong khi tỷ trọng các mặt hàng gạo, cà phê, cao su, chè giảm. Các mặt hàng có tỷ trọng tăng là gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng từ 2,6 tỷ USD chiếm 16,6% năm 2009 lên 14,3 tỷ USD chiếm 29,5% năm 2021), rau quả (tăng từ 438,9 triệu USD chiếm 2,8% năm 2009 lên 3,38 tỷ USD chiếm 6,9% năm 2021), hạt điều (tăng từ 846,9 triệu USD chiếm 5,4% năm 2009 lên 3,2 tỷ USD chiếm 6,6% năm 2021). Sự đa dạng hóa thị trường ngày càng rõ nét với 196 thị trường, với nhiều thị trường giá trị cao như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia… góp phần giảm bớt mức độ phụ thuộc vào Trung Quốc. Trong đó, các thị trường chính bao gồm Mỹ (30,8%), Trung Quốc (22,1%), Nhật Bản (7,8%), Hàn Quốc (5,15%) (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2021).

Năng lực cạnh tranh và vị thế của nông sản Việt Nam đang được củng cố, nhiều nông sản xuất khẩu đã đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của các thị trường, ngay cả ở những thị trường nhập khẩu khó tính. Nhiều mặt hàng giữ được vị thế quan trọng trên thị trường thế giới. Phương thức xuất khẩu được đổi mới, chuyển đổi dần sang xuất khẩu chính thức, trong đó kim ngạch xuất khẩu chính ngạch ngày càng tăng, nhất là đối với Trung Quốc. Đặc biệt, gần đây Việt Nam đã mở thêm được nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chính ngạch sang các thị trường lớn như rau quả, thủy sản, sữa và sản phẩm sữa. Các doanh nghiệp đã chủ động đưa nhiều sản phẩm vào sâu hơn chuỗi giá trị toàn cầu và được tiêu thụ trực tiếp trong các siêu thị ở nước ngoài như gạo, cà phê, trái cây.

Quá trình hội nhập đã tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất chất lượng, khả năng cạnh tranh và tăng cường hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm đồng thời tạo sức ép tích cực lên doanh nghiệp và các nhà sản xuất trong nước, giúp nâng cao chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng và tiêu chuẩn chất lượng của các thị trường tiêu dùng khó tính trên thế giới. Trong lĩnh vực sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng và chế biến thủy sản, rất nhiều kỹ thuật tiên tiến và các tiêu chuẩn kỹ thuật như VIETGAP, ISO, HACCP,… và các tiêu chuẩn quốc gia về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật khác cũng đang được áp dụng để đáp ứng hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế. Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đã từng bước nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới và tạo sự bứt phá đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, như: lúa gạo, thủy sản, cà phê, hạt tiêu, hạt điều...

Còn nhiều hạn chế trong xuất khẩu ảnh hướng đến khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam

Mặc dù, nông sản Việt đã xây dựng được chỗ đứng quan trọng nhưng vẫn còn nhiều điểm yếu, nhiều nút thắt cần tháo gỡ để nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu nông sản.

Thứ nhất, chất lượng nông sản xuất khẩu chưa đồng đều, thiếu ổn định, tỷ lệ nông sản sản xuất theo các tiêu chuẩn bền vững, tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải còn rất hạn chế trong khi các yêu cầu của các nước nhập khẩu ngày càng khắt khe.

Thứ hai, tổ chức sản xuất chuyển đổi chậm, vẫn chủ yếu dựa vào hộ sản xuất quy mô nhỏ (9,1 triệu hộ nông dân), thiếu bền vững khi xu hướng tăng đầu vào để nâng cao năng suất và phòng, chống dịch bệnh phức tạp còn khá phổ biến. Mức độ cơ giới hóa chưa đồng bộ trong các khâu của ngành hàng, tổn thất sau thu hoạch còn cao3. Công nghệ sơ chế, chế biến, bảo quản còn yếu, chỉ ở mức trung bình của thế giới, phần lớn nông sản Việt Nam đang tham gia ở các khâu thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu ở dạng thô, sơ chế chiếm chủ yếu, giá xuất khẩu thấp hơn các sản phẩm cùng loại so với nhiều nước khác. Rất ít nông sản xuất khẩu có thương hiệu, nhãn mác rõ ràng và đăng ký bảo hộ bản quyền hoặc tên thương mại, chưa được bảo vệ chính đáng trên thị trường. Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu ở vị trí dẫn đầu thế giới nhưng có đến hơn 80% sản phẩm nông sản chưa xây dựng được thương hiệu riêng. Xuất khẩu nông sản Việt Nam phụ thuộc vào các thị trường trọng điểm. Gạo phụ thuộc vào Đông Nam Á và châu Phi, thủy sản phụ thuộc Mỹ và Nhật Bản và một phần lớn các sản phẩm nông sản xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc, chiếm 20% thị phần của xuất khẩu nông sản của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2021. Các biến động nhỏ của thị trường Trung Quốc có thể làm lung lay đến hệ thống sản xuất - thương mại của Việt Nam.

Thứ tư, năng lực chủ động và khả năng thương thuyết trong thương mại quốc tế, năng lực phân tích thông tin và dự báo thị trường vẫn còn nhiều hạn chế. Thiếu các cơ sở dữ liệu, phân tích, giám sát nguồn cung - cầu nên chưa cung cấp được các thông tin và cảnh báo rủi ro kịp thời. Chuỗi sản xuất trong nước thường xuyên xảy ra mất cân đối cục bộ cung - cầu, sản lượng tăng thì giá bán thấp.

Thứ năm, cơ sở hạ tầng thương mại, logistics, giao thông vận tải không đồng bộ và không đáp ứng được nhu cầu nội địa. Việt Nam thiếu các trung tâm kết nối nông sản tại các vùng miền, thiếu hệ thống kho ngoại quan và trung tâm hậu cần phục vụ xuất khẩu. Các trung tâm logistics kết nối Việt Nam với quốc tế chưa được đầu tư, xây dựng đúng mức. Nhiều dịch vụ logistics cho xuất khẩu phụ thuộc lớn vào nước ngoài. Chi phí logistics quá cao, chiếm 30-40% giá thành sản phẩm (tỷ lệ này chỉ khoảng 15-20% ở các quốc gia khác), đã chiếm hơn 50% giá thành xuất khẩu nông sản trong đại dịch Covid-19.

Còn nhiều thách thức đối với nông sản Việt trong quá trình hội nhập nhưng không thiếu cơ hội

Thách thức

Tham gia thị trường và mở cửa nền kinh tế mạnh, Việt Nam sẽ chịu nhiều tác động mạnh từ những biến động kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới như dịch bệnh Covid-19, xung đột Nga - Ukraina... Giá nguyên vật liệu đầu vào liên tục tăng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và hiệu quả sản xuất, làm suy yếu sức cạnh tranh về giá của nông sản Việt. Thêm vào đó, giá xăng dầu biến động liên tục và chưa ổn định được nguồn cung cho thị trường trong nước đang tạo ra những bất ổn trong hệ thống sản xuất kinh doanh. Chi phí logistics, vận tải biển vẫn ở mức cao và tiếp tục gia tăng và tạo áp lực lên hoạt động thương mại xuất khẩu của Việt Nam.

Quá trình hội nhập cũng khiến nông nghiệp Việt Nam phải đối mặt với việc gia tăng cạnh tranh và áp lực, làm thu hẹp một số lĩnh vực sản xuất có khả năng cạnh tranh thấp. Các đối thủ ngày càng lớn mạnh và nhiều đối thủ mới xuất hiện. Các nền quốc gia mới nổi và đang phát triển mạnh sản xuất nông sản với chất lượng cao, trở thành đối thủ cạnh tranh của Việt Nam trên các thị trường như Campuchia và Myanmar đối với gạo; Ấn Độ, Mexico, Indonesia đối với thủy sản.

Việc cắt giảm rào cản thuế quan, gỡ bỏ rào cản kỹ thuật và hành chính làm tăng sức ép cạnh tranh giữa hàng hóa nhập khẩu và sản xuất trong nước. Sự hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực sản xuất và trình độ quản lý khiến các nhà sản xuất và doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với nguy cơ bị các tập đoàn toàn cầu và các doanh nghiệp lớn thâu tóm. Thực tế, sau nhiều năm hội nhập, một số ngành hàng đã tận dụng tốt được các lợi thế do mở cửa mang lại như lúa, cao su, cà phê, thủy sản, sản phẩm gỗ, trong khi một số ngành khác phải thu hẹp sản xuất do phải đối mặt với nguy cơ cạnh tranh cao như đậu tương, bông...

Hàng hoá nông, lâm, thủy sản cũng sẽ phải đối mặt với nhiều rào cản thương mại, chính sách nhập khẩu của các nước với nhiều yêu cầu khắt khe về chất lượng và an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ môi trường, các vụ kiện chống trợ cấp, chống bán phá giá và tranh chấp thương mại. Các nước sẽ tiếp tục các biện pháp kiểm soát chất lượng, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ nền sản xuất trong nước và yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế về môi trường và xã hội. Các quốc gia và người tiêu dùng thế giới đang đặt trọng tâm lớn hơn đến các tiêu chuẩn phát triển bền vững, giảm phát thải các bon. Trong tương lai, nông sản Việt có thể đứng trước nguy cơ chịu mức thuế mới đối với sản phẩm có mức phát thải lớn.

Trong khi đó, hệ thống sản xuất trong nước ngày càng đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn. Nguồn tài nguyên đang dần bị suy thoái và cạn kiệt. Sự gia tăng dân số, phát triển công nghiệp, đô thị hóa, nhu cầu sản xuất lương thực và thực phẩm tạo sức ép thu hẹp diện tích đất đai và diện tích rừng đầu nguồn. Nhiều dòng sông đang bị ô nhiễm nặng nề, chất lượng nước ngày càng xấu đi do mang nhiều độc tố từ các chất thải kim loại nặng, chất thải hữu cơ và vô cơ từ sinh hoạt, các dư lượng hóa dược nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Biến đổi khí hậu đang là thách thức lớn nhất đối với nhân loại và Việt Nam trong thế kỷ XXI, tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng cao gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan (rét đậm, lũ lụt, hạn hán…) ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp nói riêng và gây rủi ro lớn đối với toàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai nói chung. Việt Nam luôn nằm trong nhóm 10 nước có mức độ rủi ro do biến đổi khí hậu cao nhất toàn cầu (2016 đứng thứ 8, 2017 đứng thứ 5 và 2018 đứng thứ 6 trên toàn cầu) (Germanwatch, 2019).

Cơ hội

Hội nhập kinh tế quốc tế đang mở ra nhiều cơ hội tăng xuất khẩu với các mặt hàng chiến lược và có lợi thế nhờ các cam kết cắt giảm thuế quan (đặc biệt là sản phẩm chế biến) như lúa gạo, cà phê, thủy sản, rau quả. Nông sản Việt Nam có lợi thế hơn trong thương mại, nhiều cơ hội lựa chọn thị trường và đối tác, giảm mức độ phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc.

Nền kinh tế các nước đang dần phục hồi trong và sau đại dịch Covid-19. Nhu cầu thị trường thế giới về lương thực thực phẩm có xu hướng tăng mạnh trong bối cảnh ảnh hưởng của khí hậu và lo ngại mất an ninh lương thực do kinh tế, chính trị thế giới nhiều biến động cũng mở ra cơ hội tăng xuất khẩu cho Việt Nam.

Môi trường thể chế chính sách trong nước đang dần được hoàn thiện và đổi mới theo các cam kết quốc tế góp phần thúc đẩy sự tham gia của tư nhân trong sản xuất, chế biến và thương mại nông sản, giúp Việt Nam tiếp tục là điểm thu hút được lượng lớn vốn FDI vào nông nghiệp đặc biệt vào công nghệ chế biến, công nghệ cao ở trong nước.

Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong bối cảnh hội nhập với việc ứng dụng nền tảng số sẽ đem lại nhiều cơ hội cho chuyển đổi chuỗi giá trị nông sản Việt Nam. Trong đó, công nghệ số sẽ hỗ trợ đắc lực, góp phần chuyển từ hệ thống canh tác và phân phối truyền thống sang hệ thống canh tác thông minh, phân phối hiện đại tích hợp với các nền tảng trực tuyến và kết nối các quốc gia với nhau. Ứng dụng công nghệ số đang được đẩy mạnh trong các khâu tự động hóa các quy trình sản xuất, kinh doanh; quản lý, giám sát nguồn gốc, chuỗi cung ứng sản phẩm, bảo đảm nhanh, minh bạch, chính xác, an toàn thực phẩm thúc đẩy sản xuất hàng hóa và mở ra cơ hội phát triển nhanh, bền vững trong bối cảnh nhiều biến động.

Nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn thực thi toàn bộ các cam kết thương mại tự do và những kết quả của nền kinh tế đã thể hiện quy luật thị trường - ngành nào có lợi thế sẽ cạnh tranh thành công. Xu hướng nền nông nghiệp thế giới đang chuyển đổi theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ và kinh tế tri thức nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Nền nông nghiệp hiện đại của thế kỷ XXI là một nền nông nghiệp sinh thái thông minh, trách nhiệm, dựa trên ứng dụng đổi mới sáng tạo, kết hợp với các phương thức quản trị thông minh chính xác nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng, an toàn và tiết kiệm nguồn lực hơn.

Những thay đổi này đặt ra các yêu cầu về đổi mới tư duy, thay đổi cách thức vận hành và chuyển đổi lại hệ thống sản xuất phù hợp với xu hướng. Chúng ta có thể thấy rằng, tham gia hội nhập sâu rộng như hiện nay thì cơ hội để mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu là rất lớn, nhưng thách thức là rõ ràng. Cơ hội sẽ chỉ là cơ hội nếu chúng ta không biết tận dụng, nếu chúng ta không thay đổi để nâng cao chất lượng nông sản, đáp ứng các nhu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhu cầu về xã hội, bình đẳng giới hay các yêu cầu khác liên quan đến bảo vệ môi trường, giảm phát thải… Cùng với đó, để sản xuất đáp ứng tốt hơn yêu cầu thị trường, để tạo ra giá trị cao hơn đối với một sản phẩm nông nghiệp thì chúng ta cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, xây dựng sản phẩm nông nghiệp với giá trị cao hơn, tiếp cận tới những nhu cầu cao hơn về thẩm mỹ, về trách nhiệm của người tiêu dùng trên thế giới. Đây cũng chính là những định hướng và giải pháp đã nêu rất rõ trong Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn 2050.

Một số giải pháp đang và sẽ triển khai trong thời gian tới nâng cao sức cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam

Thứ nhất, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang và tiếp tục cùng với Chính phủ và các bộ, ngành khác nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế, nỗ lực thực hiện đầy đủ các quy định trong thương mại quốc tế, đồng thời sẽ đẩy mạnh đàm phán quốc tế để thúc đẩy mở cửa thị trường cho các mặt hàng nông sản, tận dụng tốt các cơ hội trong các hiệp định FTAs thế hệ mới. Bộ cũng đã và sẽ thường xuyên tổ chức những cuộc hội thảo, đẩy mạnh truyền thông, tập huấn nâng cao năng lực cho các cán bộ quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất về những nội dung cam kết quốc tế. Hiện nay, Bộ đang cố gắng xóa bỏ thẻ vàng IUU cho khai thác thủy sản, đồng thời đáp ứng các yêu cầu công nhận tương đương với cá tra. Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và địa phương tích cực triển khai thực hiện Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn 2050. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng các kế hoạch triển khai sản xuất theo hướng bền vững, giảm đầu vào (nhất là hóa chất), xây dựng nền nông nghiệp xanh hơn, giảm phát thải. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng ban hành Kế hoạch hành động phát triển nông nghiệp xanh. Hiện, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang xây dựng Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao phát thải thấp, Đề án Hợp tác xã thích ứng với biến đổi khí hậu, Kế hoạch hành động xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm trách nhiệm, minh bạch và bền vững trình Chính phủ.

Thứ hai, Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang tích cực phối hợp với Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao trong công tác đàm phán mở cửa thị trường cho các nông sản Việt Nam để xuất khẩu đi các nước trên thế giới. Đây là quá trình rất khó khăn cần có sự thay đổi từ khâu sản xuất, chế biến đến thương mại. Để có được những định hướng đối với từng thị trường Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang xây dựng các đề án để thúc đẩy xuất khẩu nông sản sang các thị trường khác nhau. Trước mắt là hoàn thiện các đề án sang các thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. Trong các đề án sẽ chỉ ra những việc cụ thể để thúc đẩy thương mại nông sản sang các thị trường đảm bảo các hoạt động xuất khẩu không ngừng tăng trưởng.

Thứ ba, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với Chính phủ và các bộ, ngành tiếp tục rà soát, nghiên cứu các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp phù hợp với cam kết trong hiệp định và cam kết trong WTO, thúc đẩy chuyển đổi sản xuất, ưu tiên phát triển sản xuất áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, hoàn thiện và đẩy mạnh áp dụng quy trình sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu, sản xuất các sản phẩm phù hợp với thị trường nhưng đảm bảo yêu cầu về bền vững, bảo vệ môi trường, giảm phát thải.

Thứ tư, về mặt thị trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hơp chặt chẽ với Bộ Công thương tập trung thúc đẩy thương mại trong nông nghiệp, nắm bắt tốt tín hiệu thị trường, đặt chất lượng sản phẩm là ưu tiên hàng đầu thay vì số lượng. Tăng cường kết nối chặt chẽ giữa sản xuất với thị trường tiêu thụ thông qua thúc đẩy phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, xây dựng các chính sách thúc đẩy liên kết trong nông nghiệp, phát triển các chuỗi sản xuất và cung ứng vào thị trường toàn cầu. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thường xuyên gặp gỡ với các tham tán nông nghiệp tại các nước. Các chính sách của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng sẽ tiếp tục ưu tiên hỗ trợ cho việc xây dựng thương hiệu quốc gia, nhãn hiệu, bảo hộ chỉ dẫn địa lý.

Thứ năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ cùng các bộ, ban, ngành liên quan hỗ trợ doanh nghiệp và người sản xuất tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, tin cậy về thị trường trong nước và thế giới (số liệu thương mại, sản xuất, dự báo, chiến lược, chính sách) để có sự chuẩn bị tốt hơn trong chiến lược kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận công nghệ và thiết bị tiên tiến phục vụ sản xuất chế biến và kiểm soát chất lượng cho sản phẩm xuất khẩu.

Thứ sáu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ ưu tiên xúc tiến thực hiện các chính sách thu hút đầu tư tư nhân trong nước tham gia phát triển ngành công nghiệp bảo quản, chế biến và phát triển hệ thống logistics. Đồng thời, đề xuất với Chính phủ ưu tiên các đầu tư công cho phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics hỗ trợ cho thương mại nông sản. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang phối hợp với các tỉnh ở một số vùng trọng điểm trong việc xây dựng các trung tâm đầu mối nhằm kết nối tốt hơn giữa khâu sản xuất và thị trường, cả thị trường trong và ngoài nước.

Việc xây dựng các đề án chính sách để chủ động hội nhập là việc làm thường từ Trung ương xuống, tuy nhiên việc thực hiện lại là từ chính hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và có sự điều tiết hỗ trợ của các Hiệp hội. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng sản phẩm, để giảm giá thành, xây dựng thương hiệu hàng nông sản Việt chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, có hương vị riêng của Việt Nam, có tâm hồn của người Việt Nam để thế giới biết đến thì vai trò của người dân, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức hiệp hội là vô cùng quan trọng. Chính vì thế để xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả, cạnh tranh, bền vững, xanh, trách nhiệm thì cần có sự chung tay của nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức và trên hết là vai trò quan trọng của người nông dân.

Chú thích:

1.  Tính toán theo dữ liệu UNComtrade 2020.

2. Trồng trọt có: Lúa gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sắn, rau quả; Thủy sản có: Tôm, cá tra; Lâm nghiệp có: Gỗ và sản phẩm từ gỗ.

3. Khoảng 10-20% do thiếu cơ sở vật chất bảo quản đủ chất lượng.

Lê Minh Hoan - Ủy viên Trung ương Đảng,

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục