Vì sự tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế

(Mặt trận) - Tiến bộ và công bằng xã hội có mối liên hệ và tương quan chặt chẽ với nhau, trở thành một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước. Bài viết phân tích và đề xuất những giải pháp để có được tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm tạo động lực cho sự phát triển, thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Tiến bộ, công bằng xã hội là động lực của sự phát triển

Tiến bộ và công bằng xã hội có mối liên hệ và tương quan chặt chẽ với nhau, từ đó, đã trở thành một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, dân tộc và là khát vọng sống của loài người. Mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng và nhân dân ta đang phấn đấu thực hiện đã thể hiện tinh thần đó. Đảm bảo thực chất của tiến bộ và công bằng xã hội là giải quyết hài hòa giữa sự phát triển kinh tế đất nước với thực hiện các chính sách xã hội, đem lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan điểm này lại càng có ý nghĩa quan trọng. Khắc phục được những hạn chế cố hữu của nền kinh tế thị trường, mang đậm tính nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa, nên cần phải được quán triệt sâu sắc, triển khai có hiệu quả trong thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học, được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định và thường được đo bằng một số đại lượng. Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về lượng (quy mô sản lượng) của một nền kinh tế nào đó, tính trong thời gian nhất định. Có thể nói rằng, tăng trưởng kinh tế, mặc dù là một tiêu chí quan trọng của tiến bộ xã hội, nhưng bản thân nó là sự thể hiện không đầy đủ của tiến bộ xã hội, bởi theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học, tiến bộ xã hội là quá trình phát triển của xã hội loài người từ thấp lên cao, từ một hình thái kinh tế - xã hội này đến một hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn. Vì vậy, tiến bộ xã hội không chỉ thể hiện trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà cả trong sự phát triển của quan hệ sản xuất; trong sự phát triển của cơ sở hạ tầng, trong sự phát triển của kiến trúc thượng tầng; trong sự phát triển của tồn tại xã hội, trong sự phát triển của ý thức xã hội; không chỉ trong việc nâng cao mức sống của con người, làm cho con người thoát khỏi mọi áp bức bóc lột, bất công, mà còn được phát triển toàn diện và tự mình làm chủ cuộc sống bản thân. Trên cơ sở giải quyết được vấn đề tăng trưởng kinh tế, nghĩa là tạo ra được nhiều của cải vật chất, người ta mới có thể giải quyết hàng loạt vấn đề khác, đặc biệt là các vấn đề xã hội, như nâng cao mức sống của người dân, tăng cường phúc lợi xã hội, giảm bớt tình trạng thất nghiệp, đảm bảo cho mọi người có công ăn việc làm ổn định...

Tuy nhiên, đứng từ góc độ tiến bộ xã hội mà xét thì không phải lúc nào tăng trưởng kinh tế cũng đồng hành hay là dẫn đến tiến bộ xã hội. Một khi trong xã hội mà người ta chỉ duy nhất quan tâm đến tăng trưởng kinh tế và bằng mọi giá để thúc đẩy sự tăng trưởng ấy thì điều đó có thể sẽ chứa đựng một nguy cơ khó lường. Do vậy, chúng ta phải luôn kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Để tìm hiểu rõ vấn đề này, không được đồng nhất công bằng xã hội với bình đẳng xã hội. Nói tới bình đẳng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người về một (hoặc một vài) phương diện xã hội nào đó, chẳng hạn về kinh tế, chính trị, văn hoá...

Còn công bằng xã hội là khái niệm mang tính lịch sử tất yếu, bị quy định bởi hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Có thể nói, mỗi xã hội đều có chuẩn mực riêng về công bằng xã hội, chuẩn mực đó do hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội đó quy định. C.Mác chỉ ra rằng, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sau khi đã khấu trừ những khoản cần thiết để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ số sản phẩm của xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng sản phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động đã cung cấp cho xã hội.

Cương lĩnh (bổ sung và phát triển năm 2011) đã khẳng định ''Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng là động lực mạnh mẽ, phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc''1.

Để giải phóng con người theo nghĩa đầy đủ, chẳng những cần tăng trưởng kinh tế, mà phải thực hiện sự tiến bộ và công bằng xã hội. Đối với nước ta trong hơn 30 năm đổi mới, xác định mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội như thế nào cho đúng đắn, vẫn là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu đầy đủ để có được những giải pháp phù hợp với thực tế đất nước. Cần tiếp tục tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận để xây dựng một mô hình lý thuyết về phát triển xã hội, về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Những đặc điểm lịch sử cụ thể không giống nhiều nước đòi hỏi một khung lý thuyết về tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam không thể dập khuôn mô hình của bất cứ nước nào. Đó là cả một quá trình công phu tìm tòi từ nhiều góc độ khác nhau trong lịch sử và hiện tại, từ góc độ kinh tế đến chính trị, văn hoá, tập quán và tâm lý...

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển là làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Sau này Người còn nói rõ hơn: Nhà nào nghèo thì đủ ăn, đã đủ ăn thì khá lên, nhà nào khá thì làm cho giàu lên, nhà giàu thì giàu lên nữa, phải làm cho đất nước trở nên giàu mạnh, rồi đến khi thắng lợi, sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng, to đẹp hơn gấp mười ngày nay... Đó là những điểm cốt lõi trong quan điểm giải phóng và phát triển của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng là cơ sở tư tưởng để hình thành các chính sách xã hội, để khảo cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển đã trở thành động lực to lớn và mạnh mẽ, động viên toàn Đảng, toàn dân ta trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ở những thập kỷ trước đây.

Trong một thời gian dài, chúng ta chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của chính sách xã hội và sự kết hợp hữu cơ giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, chưa nhận thức được rằng, việc tiếp cận các vấn đề xã hội và đề ra những chính sách xã hội, đối với các cách đề cập khác nhau đối với việc giải quyết một quá trình thống nhất, có quan hệ hữu cơ và thâm nhập lẫn nhau, không thể chia cắt trong khoa học về con người. Vì vậy, trong nhiều kế hoạch của Nhà nước, thường chú trọng nhiều đến các chính sách kinh tế, mà chưa chú trọng đầy đủ đến các chính sách xã hội. Đó là chưa kể trong xã hội còn coi chính sách xã hội như chính sách hỗ trợ cho sự phát triển đất nước.

Trước đây, trong điều kiện chiến tranh, chính sách xã hội theo chủ nghĩa bình quân đã giữ vai trò lịch sử nhất định, trong một thời gian nhất định. Nhưng khi tình hình đã thay đổi, những chính sách xã hội, đặc biệt là chính sách phân phối, chính sách phúc lợi xã hội mang tính bình quân bị kéo dài quá lâu, cho đến nay vẫn chưa thể khắc phục hết, đã cào bằng mọi giá trị lao động, chẳng những không tạo ra được bất cứ sự công bằng xã hội nào, mà trái lại đã làm giảm ý nghĩa thực tế của những ý tưởng tốt đẹp mà ta thường nói về ''con người'', về ''dân làm chủ'', về “công bằng xã hội”... Chủ nghĩa bình quân trong điều kiện lịch sử mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã có tác động tiêu cực, triệt tiêu động lực của sản xuất, là một trong những nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế.

Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, đã tạo đà phát triển, làm cho kinh tế không ngừng tăng trưởng. Mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội, công bằng xã hội đang đứng trước hàng loạt những vấn đề thực tiễn vô cùng bức xúc. Đất nước ta trải qua thời gian chiến tranh kéo dài với mức độ tàn phá ác liệt, cơ sở kinh tế vốn đã nghèo nàn, lạc lậu, bối cảnh quốc tế diễn biến khá phức tạp, kiến thức và kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý đất nước còn hạn chế. Đó là những đặc điểm lịch sử làm cho chúng ta không dễ dàng gì có thể nhanh chóng rút ngắn được khoảng cách giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.

Với tốc độ tăng trưởng hàng năm tương đối cao của nền kinh tế, cho phép đất nước ta có cơ hội phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện giải quyết những hiện tượng bất công trong xã hội. Giữ được sự cân bằng tương đối giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là một yêu cầu hết sức quan trọng. Tuy nhiên, cần phải có một hệ thống chính sách xã hội đúng đắn và có hiệu lực, bên cạnh đó, thực hiện tốt hệ thống chính sách đó, thì mới có thể thực hiện được công bằng xã hội. Đại hội VI của Đảng lần đầu tiên tạo sự chuyển biến trong quan điểm nhận thức về vấn đề chính sách xã hội, chính thức đưa vào báo cáo chính trị. Tiếp theo đó, các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội, Chính phủ đã từng bước cụ thể hóa thêm. Từ Đại hội VII đến Đại hội XII đã phát triển lên một bước cao hơn trong Cương lĩnh, Chiến lược kinh tế - xã hội của Đảng về chính sách xã hội. Công bằng xã hội là mục tiêu cao đẹp, được cụ thể hóa thành những nội dung phù hợp với từng lĩnh vực, từng đối tượng dân cư, từng vùng miền, từng chính sách, từng việc làm thiết thực.

Muốn cho sự phát triển kinh tế có tác động đến công bằng xã hội, cần phải có hệ thống chính sách xã hội tích cực, đúng đắn, đồng thời động viên được toàn xã hội tham gia thực hiện. Mục tiêu bao trùm của tất cả các chính sách xã hội là phải mang lại cho con người một cuộc sống tốt đẹp, không chỉ dành riêng cho ai, cho một thiểu số hay tập thể nào, mà là dành cho mọi người dân trong xã hội Việt Nam; chính sách đó phát triển xã hội một cách bền vững phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể và truyền thống văn hóa của dân tộc.

Giải pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách tiến bộ và công bằng xã hội

Một là, bảo đảm cơ sở và những điều kiện cơ bản cho đời sống vật chất và tinh thần (bao gồm cả văn hoá, khoa học, nghệ thuật...) đạt tới trình độ ngày càng cao cho thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, đáp ứng yêu cầu của công cuộc phát triển đất nước. Trên cơ sở đó, hình thành một lối sống Việt Nam vừa hiện đại, hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, vừa bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tạo nên một xã hội lành mạnh, văn minh, ổn định, làm cho môi trường ưu việt cho sự tăng trưởng kinh tế. Đó chính là động lực phát triển của xã hội Việt Nam.

Ngày nay, khi chúng ta sống trong thời đại văn minh mới, ý chí tự lực tự cường phải được nâng lên tầm cao mới. Từ xa xưa, người Việt Nam sống có tư duy đổi mới, nhạy bén với cái mới, linh hoạt và mềm dẻo, nước gắn liền với nhà để phát triển. Tư tưởng đổi mới trong quá trình tìm tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng xuất hiện rất sớm ở nước ta, ngay từ những tìm tòi ban đầu về khoán hộ trong nông nghiệp những năm cuối thập kỷ 60, chuyển sang hạch toán những năm đầu thập kỷ 80. Bài học những bước tìm tòi đó chính là chính sách xã hội phải hướng vào con người, thực hiện công bằng xã hội trên những yêu cầu thường ngày của người dân là ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh. Trên cơ sở năng suất thấp, thu nhập quá ít ỏi, không có sản phẩm thặng dư thì sự công bằng sẽ trở thành sự cào bằng, sự yên dân trở thành sự yên phận. Như thế thì không thể có động lực và khi đã không có động lực thì sẽ không có sự phát triển.

Hai là, bảo đảm tái sản xuất sức lao động cho xã hội (bằng các chính sách phân phối thu nhập cho mọi đối tượng, đào tạo, giáo dục, bảo vệ sức khỏe, bảo hộ và bảo hiểm lao động...) nâng cao dân trí, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế hiện nay và chuẩn bị một đội ngũ lao động cho những bước phát triển cho tương lai của đất nước.

Ba là, chính sách về công bằng xã hội ngày nay phải kế thừa truyền thống đùm bọc của dân tộc, thể hiện lòng nhân nghĩa, uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam, để không lãng quên quá khứ, chạy theo cơ chế thị trường, thương mại hóa tất cả tình nghĩa, xóa hết mọi bao cấp với mọi đối tượng cần được xã hội bao cấp mà bất cứ chế độ xã hội nào cũng có. Dù đứng ở góc độ kinh tế học của tăng trưởng hay góc độ chính trị học của phân phối mà xét, thì chỗ đứng và điểm xuất phát cũng là quan điểm cơ bản này. Do đó, không nên tách rời con người kinh tế và con người xã hội. Nói đến tăng trưởng kinh tế tức là nói đến sản xuất xã hội, trong đó bao hàm sự thống nhất biện chứng của các quá trình tái sản xuất, trong đó vấn đề bình đẳng trong phân phối đóng vai trò rất quan trọng. Sẽ không thể có sự phát triển và cất cánh của đất nước nếu không có một chính sách xã hội tiến bộ và công bằng, nhằm tạo môi trường xã hội lành mạnh và ổn định. Những bài học lịch sử của chúng ta trong quá trình tìm tòi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của những thập kỷ qua đã chứng minh điều đó.

Muốn có công bằng xã hội phải tiến hành rất nhiều giải pháp, phải có một hệ thống những giải pháp hữu hiệu, khả thi. Trước mắt, để có được tiến bộ và công bằng xã hội, cần phải xem xét khách quan và nghiêm túc vấn đề phân phối thu nhập trong xã hội. Tính công bằng trong phân phối thu nhập trước hết quyết định bởi việc thực hiện nguyên tắc ''hưởng theo lao động”. Nguyên tắc hưởng theo lao động không cho phép dành những khoản thu nhập lớn cho bất cứ đối tượng nào không có đóng góp lao động cho xã hội (bao gồm lao động trí óc và lao động chân tay). Những đóng góp lớn phải được hưởng thu nhập lớn, được xã hội tôn vinh và là nội dung hàng đầu của chuẩn mực xã hội. Vấn đề phân phối thu nhập đang là vấn đề bức xúc hiện nay trong xã hội, là lĩnh vực đang tồn tại những thói hư tật xấu về lợi ích cá nhân vị kỷ của một số người nhân danh tổ chức. Vì vậy, để thực hiện được tư tưởng đúng đắn về tiến bộ và công bằng xã hội, cần phải có chủ trương, giải pháp và những con người tương xứng có thể kiểm soát được lĩnh vực phân phối thu nhập trong xã hội hiện nay, mổ xẻ thực trạng bất công trong phối hợp thu nhập, phanh phui các hình thức biến tướng của nó và truy tìm căn nguyên của thực trạng ấy. Mọi việc được công khai minh bạch, được giám sát và phản biện. Đó là cách tốt nhất để thực hiện được tư tưởng công bằng xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trần Khắc Xin

TS, Học viện Chính trị khu vực III

Chú thích:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.496.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận (2005),

 Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận (2015), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Lê Thị Thanh Hà (2016), “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 (99).

11. Nguyễn Phú Trọng (2011), Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

 

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều