Bài 2: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với MTTQ Việt Nam trong công tác giám sát và phản biện xã hội

(Mặt trận) - Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức lãnh đạo vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đảng là thành viên của Mặt trận nhưng với tư cách thành viên lãnh đạo, thông qua Mặt trận để tập hợp các lực lượng quần chúng nhân dân theo Đảng thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đảng coi trọng, đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kịp thời phát hiện những khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp với thực tiễn; góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

 Lễ khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX_Ảnh: TTXVN

Về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Về giám sát

Năm 2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định 217-QĐ/TW về ban hành quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội; Quyết định 218-QĐ/TW về ban hành Quy định việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Theo Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) thì giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị nhằm tác động đối với đối tượng giám sát về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 định nghĩa: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật”1.

Chủ thể giám sát phải chủ động, thường xuyên theo dõi việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức. Sự tác động qua lại giữa chủ thể giám sát và chủ thể được giám sát có mối quan hệ pháp lý, gắn với quyền và trách nhiệm của mỗi bên theo quy định của pháp luật.

Không chỉ trực tiếp chủ trì giám sát, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn được mời tham gia các đoàn giám sát của các cơ quan, tổ chức theo luật định. Như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, khoản 1 Điều 9 ghi rõ: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có thể được mời tham gia hoạt động giám sát.

Như vậy, có thể quan niệm: Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trực tiếp (hoặc phối hợp với các tổ chức thành viên, các cơ quan, tổ chức khác theo luật định) theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Chủ thể, đối tượng giám sát:

+ Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chủ thể là hệ thống tổ chức của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, bao gồm:

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, mà trực tiếp và thường xuyên là Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Là cơ quan chủ trì, trực tiếp giám sát, hoặc là cơ quan phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị để giám sát.

Các tổ chức, cá nhân thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp: Tham gia giám sát dưới sự chủ trì của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

+ Đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm tập thể (cơ quan, tổ chức) và cá nhân (cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước) các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Cụ thể:

+ Đối với tập thể: Cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan đảng, cơ quan nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các cơ quan hành chính nhà nước), các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp.

+ Đối với cá nhân, bao gồm: Cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã), công chức, viên chức nhà nước.

Tính chất giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát xã hội, giám sát mang tính nhân dân, không phải là giám sát mang tính quyền lực Nhà nước hoặc giám sát trong Đảng. Giám sát xã hội chỉ dừng lại ở mức “đánh giá, kiến nghị”, tức là áp dụng các biện pháp tác động mang tính xã hội vào hoạt động của đối tượng bị giám sát (sự nhận xét, đánh giá, kiến nghị từ phía xã hội, từ đó đối tượng bị giám sát tự chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của mình), không có quyền yêu cầu hoặc bắt buộc cơ quan, tổ chức phải tiến hành xử lý một vụ việc cụ thể nào đó. Việc có xử lý hay không xử lý, xác định kết quả, kiến nghị giám sát đó đúng hay sai phụ thuộc vào quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát theo pháp luật và các quy định hiện hành. Tính nhân dân được thể hiện thông qua hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng là những hình thức trực tiếp giám sát của nhân dân.

Mục đích giám sát:

+ Giám sát nhằm kịp thời phát hiện những sai phạm, khuyết điểm, hạn chế, vướng mắc trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật; qua đó đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế chính sách, pháp luật nhằm đảm bảo phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân; đồng thời thông qua giám sát sẽ phát hiện, phổ biến, nhân rộng những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật.

+ Giúp cho cá nhân, tổ chức nâng cao ý thức trách nhiệm, gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát hiện những nhân tố mới, khuyến khích mặt tích cực, kiến nghị biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt.

+ Giúp cho cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp nắm bắt tình hình cán bộ, công chức, đảng viên thuộc diện mình quản lý về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, quan hệ với nhân dân, trên cơ sở đó có hướng bồi dưỡng, sử dụng cán bộ tốt hơn; phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi tiêu cực, quan liêu xa dân, thiếu trách nhiệm với dân; kịp thời giáo dục, xử lý những cán bộ, công chức, đảng viên có sai phạm, góp phần đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức.

+ Thông qua hoạt động giám sát, nâng cao vai trò và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và nhân dân trong việc tham gia quản lý xã hội, góp phần chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; thực hiện vai trò kiểm soát quyền lực của nhân dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Về phản biện xã hội

Phản biện xã hội là hoạt động diễn ra thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày. Nhờ có phản biện, con người có thể loại bỏ những yếu tố sai để tiệm cận đến sự hợp lý, đúng đắn trong hành vi, quyết định của mình. 

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 định nghĩa: “Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan nhà nước”2.

Có thể khái quát: Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan Nhà nước cùng cấp.

Chủ thể phản biện xã hội cũng là chủ thể giám sát, bao gồm hệ thống Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở.

Đối tượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp là dự thảo văn bản của cấp ủy Đảng và cơ quan Nhà nước cùng cấp có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ phản biện đối với dự thảo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không phản biện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã được ban hành, đang triển khai thực hiện, đang có hiệu lực thi hành.

Tính chất phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là mang tính nhân dân, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính xây dựng, tính khoa học và thực tiễn. Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội, khách quan, khoa học, xây dựng, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả của văn bản; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Phản biện mang tính nhân dân và chỉ ở mức nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để các cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo tham khảo, tiếp thu, hoàn chỉnh dự thảo văn bản của mình.

Việc tiếp thu ý kiến phản biện xã hội đến đâu, đánh giá việc nhận xét, kiến nghị phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như thế nào là quyền của cơ quan, tổ chức được phản biện. Chủ thể phản biện xã hội không được áp đặt ý chí của mình đối với đối tượng phản biện.

Mục đích của phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong các văn bản dự thảo của các cơ quan Đảng, Nhà nước; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, góp phần kiểm soát quyền lực trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đảm bảo lợi ích của nhân dân.

Nội dung của phản biện: Chủ yếu nhằm vào các vấn đề sự cần thiết ban hành văn bản; tính hợp lý, hợp pháp; tính hiệu quả và những kiến nghị, như: Sự cần thiết, tính cấp thiết của văn bản dự thảo; Sự phù hợp của văn bản dự thảo với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Thực tiễn của địa phương, đơn vị; Tính đúng đắn, khoa học, khả thi, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội; Đánh giá tác động, hiệu quả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của dự thảo văn bản có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhân dân và tổ chức.

Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát, phản biện xã hội

Quan niệm về Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát, phản biện xã hội

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta. Hơn nữa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do chính Đảng thành lập và lãnh đạo trong suốt hơn 90 năm qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn thừa nhận và ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và cả xã hội, nên có quyền lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được nhân dân thừa nhận, ủy quyền, giao phó và được hiến định tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như các tổ chức chính trị - xã hội là tất yếu và quan trọng để các tổ chức này hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, phát huy chức năng giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức lãnh đạo vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đây là một nét độc đáo trong lý luận cách mạng nước ta. Đảng là thành viên của Mặt trận, nhưng với tư cách thành viên lãnh đạo, thông qua Mặt trận để tập hợp các lực lượng quần chúng nhân dân theo Đảng làm cách mạng. Để lãnh đạo Mặt trận, Đảng phải ở trong Mặt trận, là một thành viên của Mặt trận, Đảng không thể đứng trên hoặc đứng ngoài để lãnh đạo Mặt trận.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo phương thức cũng giống như đối với hệ thống chính trị: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”. Cụ thể là: Đảng đề ra đường lối, chủ trương lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội mà Mặt trận cũng có trách nhiệm thực hiện; Đảng lãnh đạo xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định nguyên tắc hoạt động và cơ chế vận hành của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị; Đảng lãnh đạo Mặt trận thông qua Đảng đoàn Mặt trận và Đảng đoàn các tổ chức thành viên Mặt trận; Đảng tổ chức ra hệ thống chính trị mà Mặt trận là một thành tố; Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ nói chung, trong đó có cán bộ Mặt trận; Đảng có tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ngay trong hệ thống tổ chức Mặt trận.

Tuy nhiên, khi là thành viên của Mặt trận, Đảng cũng bình đẳng như mọi thành viên khác của Mặt trận, phải gương mẫu thực hiện Điều lệ và Chương trình của Mặt trận. Đảng có trách nhiệm tập hợp và phản ánh các ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, làm công tác tuyên truyền, vận động đảng viên và nhân dân nói chung thực hiện Hiến pháp, pháp luật, thực hiện và thông báo kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động với Mặt trận… Mặt khác, theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ của Mặt trận, với tư cách là một tổ chức thành viên, Đảng có quyền thảo luận, chất vấn, phê bình và kiến nghị về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các thành viên khác của Mặt trận, nhưng Đảng không quyết định, không áp đặt nguyên tắc tập trung dân chủ, không dùng uy quyền, dùng lợi thế của Đảng cầm quyền để ra mệnh lệnh, chỉ thị, bắt Mặt trận phải tuân theo. Lúc này đòi hỏi Đảng phải phát huy trí tuệ, bằng uy tín và kinh nghiệm của mình để thuyết phục Ủy ban Mặt trận và các thành viên khác. Sự kết hợp thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng với nguyên tắc hiệp thương dân chủ của Mặt trận được thể hiện qua vai trò của Đảng đoàn Mặt trận (cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố), Đảng ủy và chi bộ tại các cơ quan Ủy ban Mặt trận các cấp, thông qua việc phát huy vai trò đội ngũ đảng viên đang công tác trong hệ thống Mặt trận.

Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đảng rất coi trọng, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp với thực tiễn. Phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, cách làm hay, những mặt tích cực. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Theo đó, có thể quan niệm: Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát, phản biện xã hội là việc Đảng lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp (hoặc phối hợp với các tổ chức thành viên, các cơ quan, tổ chức khác theo luật định) theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan Nhà nước cùng cấp.

Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát, phản biện xã hội

Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc nói chung và thực hiện giám sát, phản biện xã hội nói riêng là những công việc Đảng có thể và cần làm đối với Mặt trận Tổ quốc để định hướng, tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc được xây dựng vững mạnh và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng và phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, vừa là một tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù, nổi bật của Mặt trận Tổ quốc là hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động. Do đó, nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc có những điểm đặc biệt, đó là sự lãnh đạo của một tổ chức thành viên đối với cả tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không phải bằng cách áp đặt, mà là hiệp thương dân chủ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là vấn đề có tính nguyên tắc, bảo đảm cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không ngừng củng cố và mở rộng. Đảng có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Đảng lập ra Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng Đảng là một thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - thành viên giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo. Nội dung lãnh đạo của Đảng thể hiện: Xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định nguyên tắc hoạt động và cơ chế vận hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại diện cấp ủy đảng tham gia Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm sinh hoạt đầy đủ, thực hiện đúng quy định Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; chủ động trình bày đường lối, chủ trương và những kiến nghị của Đảng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cấp ủy đảng phải giáo dục, vận động đảng viên gương mẫu thực hiện chương trình hành động chung đã được các tổ chức thành viên thỏa thuận, thống nhất… Đảng tôn trọng việc thực hiện Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác cán bộ.

Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng phải thực hiện tốt nguyên tắc hiệp thương dân chủ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hiệp thương dân chủ giữa Đảng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tạo ra sự đồng thuận, làm cho hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không thoát ly sự lãnh đạo của Đảng mà phù hợp với cương lĩnh, đường lối, mục tiêu của Đảng.

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát, phản biện xã hội

Có thể xác định, phương thức để Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát, phản biện xã hội bằng:

+ Các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; các quy định, quy chế, chỉ thị về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc; thể chế hóa các chủ trương, quy định về giám sát, phản biện xã hội nhằm thể hiện đầy đủ vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong các quy định pháp luật, để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội trong thực tế.

+ Công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động: Tuyên truyền, giáo dục, vận động nâng cao nhận thức về vai trò trách nhiệm của nhân dân đối với việc tham gia xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị các cấp. Nhà nước ta do dân làm chủ. Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Mọi hoạt động của Nhà nước đều do dân, vì dân. Nên việc tuyên truyền, giáo dục để nhân dân giác ngộ về vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình là việc rất quan trọng, cần thiết. Việc tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân, quyền giám sát và phản biện của nhân dân thông qua hệ thống chính trị các cấp, qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

+ Công tác tổ chức, cán bộ: Đảng lãnh đạo công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ làm công tác Mặt trận và các đoàn thể, đảm bảo đội ngũ cán bộ Mặt trận có tâm, có tầm, có bản lĩnh, có năng lực, trình độ cả về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị, có năng lực nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề. Đó là việc thiết thực để giám sát, phản biện xã hội có chất lượng và hiệu quả. Đồng thời, Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc tăng cường phát huy vai trò của các hội đồng tư vấn ở cấp Trung ương, cấp tỉnh và các ban tư vấn ở cấp huyện; lựa chọn những thành viên thực sự có tâm huyết, uy tín, trách nhiệm, có kiến thức vào các hội đồng, ban tư vấn để hỗ trợ cho Mặt trận các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội.

+ Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của Mặt trận Tổ quốc các cấp: Đảng đoàn, các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên là cán bộ lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đảng giới thiệu cán bộ, đảng viên, lãnh đạo cấp ủy tham gia Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Ban Chấp hành các tổ chức đoàn thể là thành viên của Mặt trận, giữ các chức vụ lãnh đạo chủ chốt của Mặt trận và đoàn thể nhân dân. Từ đó, trực tiếp triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đối với Mặt trận và lắng nghe ý kiến của Mặt trận. Quy định thành nền nếp chế độ làm việc của cấp uỷ với Đảng đoàn Mặt trận. Xây dựng quy chế định kỳ cấp uỷ làm việc với Đảng đoàn Mặt trận.

+ Hành động gương mẫu của đảng viên: Lãnh đạo cấp ủy được Đảng giới thiệu tham gia Mặt trận là những người có đức, có tài, gương mẫu trong thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có uy tín trong nhân dân.

+ Đảng tạo điều kiện và khuyến khích tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội của từng tổ chức thành viên của Mặt trận.

Chú thích:

1,2. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.24, 30.

Nguyễn Thị Ngọc Loan*

TS, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Từ Lương**

ThS, Sở TTTT TP.HCM

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều