Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với công tác vận động nhân sĩ, trí thức

(Mặt trận) - Từ khi thành lập đến nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn thể hiện vai trò quan trọng trong công tác vận động nhân sĩ, trí thức, cùng nhân dân đóng góp trí tuệ vào công cuộc kiến thiết và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ động đề xuất, cùng Đảng và Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách, tạo môi trường và điều kiện việc làm thuận lợi cho trí thức, nhằm phát huy cao độ năng lực sáng tạo của nhân sĩ, trí thức.

Ông cha ta đã từng tổng kết: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Kế thừa và phát huy truyền thống trọng sĩ của dân tộc, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng Cộng sản Đông Dương đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua hoạt động của Mặt trận Việt Minh, đã vận động nhân dân hăng hái tham gia cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên của dân tộc. Kết quả cuộc Tổng tuyển cử cho thấy: trên 60% các đại biểu trúng cử là nhân sĩ, trí thức, trong đó có rất nhiều nhân vật tiêu biểu, như các vị: Nguyễn Văn Tố, Hoàng Đạo Thúy, Thái Văn Lung, Huỳnh Tấn Phát, Ngô Tấn Nhơn, Đặng Thai Mai, Vũ Đình Hòe, Dương Đức Hiền, Nguyễn Huy Tưởng, Cù Huy Cận, Đỗ Đức Dục, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Xiển, Trần Huy Liệu, Đinh Gia Trinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Công Tường, Cao Triều Phát,...

Tham dự phiên họp đầu tiên của Quốc hội để bầu ra Ban dự thảo Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gồm hầu hết là những nhân sĩ, trí thức như: Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Văn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Nguyễn Thị Thục Viên,...

Khi chính quyền đã về tay nhân dân, công cuộc kiến thiết quốc gia trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Chính phủ. Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch kiến thiết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập, gồm những nhân sĩ, trí thức uyên bác, như: Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Vũ Đình Hòe, Hoàng Xuân Hãn, Bùi Bằng Đoàn, Trần Văn Giàu, Đặng Thai Mai, Cù Huy Cận, Nguyễn Tường Long, Đào Duy Anh, Phạm Thiều, Nghiêm Xuân Yêm, Hoàng Đạo Thúy.

Nhận thức vai trò quan trọng của nhân sĩ, trí thức trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, tuyên bố của Đảng Lao động Việt Nam khi mới thành lập đã nêu rõ: “Đảng Lao động Việt Nam gồm có những công nhân, nông dân, lao động trí óc yêu nước nhất, hy sinh nhất gồm những người phụng sự nhân dân lao động, chí công vô tư, gương mẫu trong công tác kháng chiến, kiến quốc”1.

Hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh, nhiều nhân sĩ, trí thức thuộc tầng lớp trên đã hăng hái tham gia kháng chiến; một số trí thức nổi tiếng đang du học hoặc làm việc ở nước ngoài đã từ bỏ cuộc sống sung túc, trở về quê hương để cùng toàn dân đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước, như: kỹ sư Trần Đại Nghĩa, nhà toán học Lê Văn Thiêm, thạc sĩ văn chương Hoàng Xuân Nhị, tiến sĩ luật Trần Văn Khương, luật sư Phan Anh, các giáo sư: Tạ Quang Bửu, Võ Quý Huân, Trần Hữu Tước, Phạm Huy Thông,...

Trước sự đe dọa của kẻ thù, các trí thức yêu nước, như: Lưu Văn Lang, Trịnh Đình Thảo, Michel Văn Vỹ, Hoàng Quốc Tân, Nguyễn Xuân Bái,... đã không sợ chết, bày tỏ quan điểm rõ ràng: Dứt khoát ủng hộ Chính phủ kháng chiến, đòi thực dân Pháp phải thương lượng với Chính phủ kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong số hơn 6 nghìn nhân sĩ, trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn ra bưng biền để sát cánh cùng nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh, có những nhân vật nổi tiếng, như: Đốc phủ sứ Đô trưởng Phan Văn Chương, Đốc phủ Viễn, Đốc phủ Xuân, Đốc phủ Tào... các chức sắc có uy tín lớn trong các tôn giáo, như: cụ Cao Triều Phát, Giáo chủ Nguyễn Ngọc Tương, Linh mục Nguyễn Bá Luật. Một số vị đã xung phong tình nguyện xin được ra chiến khu làm việc, như các vị: Hồ Thành Biên, Võ Thành Trinh, Trần Quang Nghiêm, Nguyễn Hiến Lê, Phạm Ngọc Thuần, Nguyễn Thành Vĩnh,...

Để thu hút, vận động đông đảo nhân sĩ, trí thức tham gia kháng chiến, kiến quốc, đập tan âm mưu thực dân Pháp định quay lại thống trị đất nước ta một lần nữa, ngoài việc củng cố, mở rộng Việt Minh, thành lập Mặt trận Liên Việt, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương vận động, khuyến khích và tạo điều kiện cho số đảng viên thuộc chi nhánh Đảng Xã hội Pháp là người Việt Nam do ông Phan Tử Nghĩa làm Tổng Thư ký và là thành viên tích cực của Mặt trận Việt Minh.

Sự ra đời của Đảng Xã hội Việt Nam nhằm đoàn kết rộng rãi trí thức yêu nước, góp phần đập tan âm mưu của thực dân Pháp và bè lũ tay sai định lặp lại chi nhánh Đảng Xã hội Pháp tại Việt Nam để lôi kéo trí thức, công chức chống lại Việt Minh.

Mặt trận Dân tộc thống nhất ở thời kì này, thời kì mới giành được chính quyền, vận mệnh của đất nước đang ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc, phải hoạt động trong vòng vây thù trong giặc ngoài, với hai hình thức tổ chức Việt Minh, Liên Việt song do một Đảng lãnh đạo, đã liên kết rộng rãi nhiều lực lượng, kể cả những người vô đảng, vô phái và đối lập là một nét độc đáo, sáng tạo chưa từng có.

Với hai hình thức tổ chức Mặt trận, chẳng những ta vẫn giữ được Việt Minh - một Mặt trận đã ăn sâu, bám rễ trong các giai cấp, tầng lớp, trong các tổ chức đảng phái yêu nước, mà còn mở rộng lực lượng vào tầng lớp trí thức, nhân sĩ tiêu biểu có địa vị, danh vọng trong xã hội; bao gồm các quan lại, viên chức cao cấp, thủ lĩnh các dân tộc, chức sắc cao cấp các tôn giáo chưa có điều kiện tham gia hoặc còn “ngại” tham gia Việt Minh.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập ngày 10/9/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự; cụ Tôn Đức Thắng được cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tuyên ngôn của Đại hội “Thiết tha kêu gọi các thành phần xã hội, tầng lớp nhân dân, mọi người Việt Nam không phân biệt trai gái, già trẻ, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, khuynh hướng chính trị, không phân biệt trước đây đã đứng về phe nào nhưng ngày nay tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ hãy xiết chặt hàng ngũ trong Mặt trận để cùng nhau thực hiện Cương lĩnh của Mặt trận”.

Tầng lớp trí thức giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Với nhận thức: “Không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội”, ngay trong quá trình phục hồi kinh tế, Mặt trận đã ban hành chính sách đoàn kết trí thức vùng tự do với vùng mới giải phóng, trí thức cũ với trí thức mới; trí thức được đào tạo dưới thời Pháp thuộc với trí thức được đào tạo dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng với việc ban hành chính sách đoàn kết trí thức, Mặt trận nghiên cứu, đề xuất với Nhà nước có chính sách bố trí công việc và đãi ngộ thỏa đáng đối với trí thức tài năng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để trí thức cống hiến ngày càng nhiều cho đất nước và gắn bó mật thiết với công, nông trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Ở miền Nam, sau Hiệp định Giơnevơ, một yêu cầu khách quan đặt ra cho cách mạng miền Nam là phải tập hợp, huy động quần chúng đông đảo tiến công địch về chính trị để bảo toàn lực lượng, tạo điều kiện để cách mạng tiến lên. Đáp ứng yêu cầu của cách mạng và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với lời kêu gọi: “Tất cả hãy đứng lên, tất cả hãy đoàn kết lại. Hãy xiết chặt hàng ngũ để chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng, đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm”2. Hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận, trên toàn miền Nam đã dấy lên khí thế chống Mỹ sôi nổi với những khẩu hiệu “Tìm Mỹ mà đánh, lùng Ngụy mà giết”, “Níu thắt lưng địch mà đánh, đạp lên đầu thù mà diệt”.

Mặt trận động viên quân và dân kiên quyết bám trụ, giữ vững quyền làm chủ xóm làng. Phong trào học sinh, sinh viên, trí thức ở các đô thị ngày càng được mở rộng về quy mô và càng mang rõ sắc thái dân tộc. Theo sự hướng dẫn của Mặt trận, song song với phong trào đòi dân sinh, dân chủ, xuất hiện ngày càng nhiều các phong trào đòi “dân tộc tự quyết”, phong trào “bảo vệ nhân phẩm”, “bảo vệ văn hóa dân tộc”, đòi Mỹ cút, đòi Thiệu - Kỳ từ chức.

Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam ra đời là một biểu hiện sinh động của chính sách đại đoàn kết nhân sĩ, trí thức của Mặt trận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Với phương châm “hai chân ba mũi, ba vùng chiến lược”, phong trào đấu tranh ở các đô thị đã diễn ra liên tục, sôi nổi, thu hút nhiều giai cấp, tầng lớp, trong đó có nhiều nhân sĩ, trí thức, tư sản tham gia. Sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đã tạo điều kiện cho một số nhân sĩ, trí thức rời các đô thị ra vùng giải phóng. Ngày 20/4/1968, nhóm trí thức ra vùng giải phóng đã cùng các nhân sĩ, trí thức yêu nước khắp miền Nam mở Đại hội thành lập “Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam”. Với sự tham gia của đông đảo nhân sĩ, trí thức, học giả, nhà báo, nhà văn, giáo sư, sinh viên, nhà công thương nổi tiếng ở miền Nam. Liên minh ra đời đã đoàn kết và tranh thủ được một bộ phận trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở thành thị và một số người có xu hướng chính trị hòa bình trung lập, nhưng chưa tham gia Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Song song với việc tổ chức và phát động các phong trào trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, dưới dự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ sau Tết Mậu Thân đã cho ra đời nhiều hình thức tổ chức, phong trào Mặt trận thuộc lực lượng thứ ba, mở đầu bằng việc thành lập “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liếng làm Chủ tịch, luật sư Ngô Bá Thành làm Phó Chủ tịch. Với chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc, đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh, “Lực lượng quốc gia tiến bộ” nhanh chóng thu hút được nhiều trí thức, nhân sĩ yêu nước, yêu hòa bình, hình thành những phong trào công khai, tạo thành mũi đấu tranh chính trị có tiếng vang lớn, có sức tập hợp nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là lực lượng thứ ba.

Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, đất nước chuyển sang một thời kỳ mới với đặc điểm nổi bật là: Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ tình trạng đất nước bị chia cắt sang cả nước độc lập, thống nhất, từ hai miền thực hiện hai nhiệm vụ, chuyển sang cả nước cùng thực hiện nhiệm vụ chung là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là bước chuyển biến to lớn nhất, sâu sắc nhất và triệt để nhất của cách mạng Việt Nam. Khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” được thay bằng khẩu hiệu “Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tất cả vì Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân”.

Để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó, Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận của cả nước họp từ ngày 31/1 đến ngày 4/2/1977 đã quyết định: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, động viên lực lượng to lớn của mọi giai cấp, mọi tầng lớp nhân dân, đồng tâm nhất trí, tự nguyện, tự giác, đem hết tinh thần và nghị lực, trí tuệ và tài năng, tích cực đóng góp vào sự nghiệp chung, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn phát triển rực rỡ của dân tộc”.

Được sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã không ngừng phấn đấu thực hiện nhiệm vụ xây dựng, phát triển và mở rộng “Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam thành một tổ chức chính trị - xã hội của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam theo Chỉ thị số 45CT/TW ngày 11/11/1998 tạo thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam - Mặt trận của các Hội Văn học nghệ thuật cả nước luôn kề vai sát cánh, có mặt trong mọi hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phấn đấu thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Kinh nghiệm công tác vận động trí thức của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, đặc biệt là từ khi đất nước hòa bình và thống nhất cho thấy:

1. Để phát huy cao độ năng lực sáng tạo của nhân sĩ, trí thức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò quan trọng là, chủ động đề xuất cùng Đảng, Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách, tạo môi trường và điều kiện làm việc cho trí thức.

2. Hiện nay trong trí thức có những băn khoăn, bức xúc trước hàng loạt những vấn đề về kinh tế, chính trị, đạo đức, phẩm chất, lối sống... như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) về “công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” đã từng nhận định: “Trong Đảng đã xuất hiện những ý kiến khác nhau về một số vấn đề cơ bản có liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng tới sự thống nhất trong Đảng. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, ngay trong lực lượng nòng cốt, gắn bó với Đảng, với chế độ đã phát sinh một số vấn đề tư tưởng, tâm trạng bức xúc đáng lo ngại, ảnh hưởng tới tính đồng thuận xã hội…”.

Trước những ý kiến khác nhau về những vấn đề cơ bản, có liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xã hội có nhiều ý kiến “trái chiều”. Một bộ phận phản đối gay gắt, song không ít ý kiến lại tán đồng. Để đảm bảo đoàn kết, đảm bảo dân chủ và chân lý, Mặt trận đã nhiều lần kiến nghị với Đảng cần thận trọng xem xét một cách toàn diện những ý kiến “trái chiều”, vì đây là những ý kiến của các nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học có uy tín lớn trong giới trí thức và một bộ phận nhân dân, những người đã từng giữ trọng trách trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, từng một thời được xã hội coi trọng và đánh giá cao. Báo cáo Chính trị giữa nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã nhận định: “Đổi mới là sự nghiệp khó khăn, chưa từng có tiền lệ nhưng chúng ta đã mạnh dạn tìm tòi, dũng cảm tiến hành và giành thắng lợi rất quan trọng”3… Dù sao xây dựng chủ nghĩa xã hội còn là sự nghiệp mới mẻ, đòi hỏi nhiều công phu, nghiên cứu, khám phá, tìm tòi. Chúng ta phải không ngừng thông qua tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, mà từng bước hình dung ngày càng sáng tỏ về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, làm rõ mô hình cụ thể trong từng lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa”4.

Trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu lý luận nói riêng, xuất hiện những ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều là chuyện bình thường. Để khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu nói chung, nghiên cứu lý luận nói riêng vì lợi ích chung của dân tộc, ngay từ Nghị quyết 07 ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị “Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất” đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc chủ yếu phải lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc”.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về Đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề nảy sinh trong quá trình đổi mới; không ngừng phát triển lý luận. Tạo môi trường dân chủ thảo luận, tranh luận khoa học, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ cá nhân và tập thể trong nghiên cứu lý luận, khẩn trương ban hành Quy chế dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị”5.

Những quan điểm chỉ đạo trên của Trung ương, của Bộ Chính trị đã tạo không khí dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị; nhiều phát kiến mới được coi trọng; nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị được công bố, góp phần củng cố, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc trong điều kiện hiện nay.

Những quan điểm đó cũng tạo ra sự đoàn kết và đồng thuận cao trong đội ngũ những người làm nghiên cứu khoa học và khẳng định việc xây dựng, ban hành và hoàn thiện Quy chế dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đặc biệt là giới trí thức. Đó cũng là mong muốn của những người làm công tác Dân vận - Mặt trận.

Nguyễn Túc

Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam

Chú thích:

1. Bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi lễ khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, Dân, Chính các cơ quan Trung ương ngày 6/2/1953 (Tài liệu lưu tại Viện lịch sử Đảng).

2. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội. 2018, tr.9.

3, 4. Văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2005 tr.403.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tr.256.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều