74 năm - Chặng đường đầy chông gai nhưng nhiều chiến công hiển hách

(Mặt trận) - Cách mạng không phải là con đường có sẵn hoặc là sự sao chép từ một mẫu hình ngoại lai, mà đó là cả một quá trình tìm tòi, sáng tạo, không ngừng đúc kết những kinh nghiệm thành công và không thành công trong quá khứ để đưa đất nước tiến nhanh lên phía trước. Quá khứ không lặp lại, nhưng biết tận dụng những bài học trong quá khứ là yếu tố quan trọng, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội.

Chìa khóa của mọi sự tiến bộ là không ngừng đổi mới

Còn ít ngày nữa, Lễ kỷ niệm Quốc khánh (2/9) - đánh dấu chặng đường 74 năm ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ được tổ chức. Đây là sự ghi nhận quá trình chiến đấu và trưởng thành không ngừng của cách mạng Việt Nam. Từ chỗ bị xóa tên trên bản đồ thế giới1, nay được Đại hội đồng Liên hợp quốc lần thứ 89 khóa 73 bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với số phiếu 192/193 tổng số thành viên - là dấu son ghi nhận sự chuyển biến lớn về vai trò và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong lịch sử của Liên hợp quốc, chưa có cuộc bầu chọn nào đạt số phiếu thuận cao như vậy.

Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là cơ quan có quyền lực cao nhất trong hoạt động của Liên hợp quốc. Sau Chiến tranh thế giới lần II, hòa bình thế giới vẫn bị đe dọa bởi các cuộc chạy đua vũ trang, các cuộc nội chiến, các cuộc chiến tranh ủy nhiệm2. Nguy cơ xảy ra chiến tranh thế giới lần III đang bị đẩy lên mức gay gắt nhất. Tuy vậy, nhân dân các nước vẫn đặt nhiều hy vọng vào vai trò của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong việc ngăn ngừa chiến tranh thế giới lần III xảy ra. Quả đúng như vậy, mọi nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sẽ mang tính cưỡng chế bắt buộc phải thi hành khi 5 ủy viên thường trực (Nga, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc) và 10 ủy viên nhất trí thông qua. Những dự thảo nghị quyết mang tính áp đặt, bị một trong 5 ủy viên thường trực bác bỏ, thì không có hiệu lực thi hành. Nhờ vậy, nhiều cuộc tranh chấp, xung đột có thể trở thành nguy cơ đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế đã được tháo gỡ. Các ủy viên không thường trực tuy không có quyền phủ quyết, nhưng tiếng nói của họ rất có trọng lượng tại diễn đàn này. Việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với số phiếu 192/193 chứng tỏ vai trò và tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng.

Thành tựu và uy tín của Việt Nam không phải bỗng nhiên có. Đó là kết quả của một quá trình phấn đấu lâu dài. Không tránh khỏi việc có những ngộ nhận, định kiến về đường lối, chính sách và phải trải qua nhiều thập niên mới nhận ra và được sửa đổi. Đường lối đối nội và đối ngoại của Việt Nam luôn được nghiên cứu, chuyển đổi phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế, phù hợp với quy luật khách quan của đấu tranh xã hội và đấu tranh với thiên nhiên. Lập trường của Việt Nam trong xử lý các vấn đề tranh chấp quốc tế luôn được dựa trên nguyên tắc độc lập, tự chủ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Việt Nam luôn chủ trương giải quyết các cuộc xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và dựa trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế. Việt Nam không cho nước ngoài thành lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của nước mình, không gia nhập các khối quân sự để chống lại nước thứ ba. Việt Nam đã tổ chức thành công một số hội nghị quốc tế, như: Hội nghị Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) lần thứ 132 vào tháng 3/2015 tại Hà Nội; Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) tại Đà Nẵng năm 2017 và đã 4 lần được mời tham gia Hội nghị Thượng đỉnh G20 (các nước có nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu của thế giới). Những sự kiện này đã làm gia tăng uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.   

Về mặt kinh tế, Việt Nam đã duy trì được đều đặn mức tăng trưởng cao trong nhiều năm. Theo dữ liệu của Tập đoàn tài chính ASBC, xuất khẩu của Việt Nam tăng 12% trong nửa sau năm 2018. Đầu tư các nước vào Việt Nam trong năm 2019 tăng 86,2%, đạt ngưỡng 10,8 tỷ USD trong quý I. Kết quả tăng trưởng về kinh tế không phải ngẫu nhiên đạt được trong thời gian ngắn. 74 năm qua là những cố gắng không mệt mỏi trong việc tìm ra và áp dụng các chủ trương, chính sách kinh tế mới. Khởi đầu là việc áp dụng chủ trương đổi mới toàn diện, nổi bật là chính sách khoán (đến hộ hoặc nhóm hộ xã viên), giao đất, giao rừng cho dân sản xuất từ năm 1986. Tiếp đến là sự chuyển đổi mang tính rộng lớn hơn, cơ bản hơn là chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Sự chuyển đổi mang tính bước ngoặt này được ghi nhận trong Hiến pháp 1990 và tạo điều kiện cho nhiều chính sách, hình thành đường lối đổi mới. Kinh tế tư nhân, một thời bị coi là vật cản, nay được thừa nhận là một trong ba thành phần bình đẳng, quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Vai trò, vị trí của các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân đã được phân tích kỹ, nhằm phát huy cao độ các điểm mạnh và khắc phục các mặt yếu của mỗi thành phần. Trong việc kêu gọi đầu tư của nước ngoài, Việt Nam cũng đã rút ra bài học đắt giá về chủ trương kêu gọi đầu tư bằng mọi giá. Nhờ vậy mà khắc phục dần nguy cơ biến Việt Nam thành nơi tiêu thụ công nghệ lạc hậu, rác thải công nghiệp của các nước phát triển. Việc thành lập các khu kinh tế đặc biệt cũng đã được cân nhắc kỹ lưỡng, nhằm tránh nguy cơ bị vỡ nợ, bị đe dọa về chủ quyền.

Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng mạnh nhất của sự biến đổi khí hậu trên trái đất. Trong quá trình đấu tranh khắc phục thiên tai, Việt Nam đã chuyển dần từ chính sách “cưỡng chế” sang chính sách “chung sống” với thiên nhiên. Việc xây dựng các công trình lấn sông, lấn biển, các công trình thủy lợi, các nhà máy điện đã được lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân và các nhà khoa học. Kết quả là có những dự án công trình lớn đe dọa gây suy thoái môi trường, cuộc sống dân sinh và gây mất cân đối nghiêm trọng về ngân sách quốc gia đã sớm bị đình chỉ. Nhà nước đã kịp thời chỉ đạo việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, cây trồng và vật nuôi cho phù hợp với điều kiện thời tiết mới, như: chuyển đổi các vùng đất ngập mặn sang nuôi trồng thủy sản, chuyển đất trồng lúa sản lượng thấp sang trồng cây ăn quả đặc sản… Nhờ vậy mà Việt Nam thu được nhiều kết quả vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp.

Trong 74 năm qua, Việt Nam đã phải trải qua các cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ. Nhưng Việt Nam đã vượt qua được mọi thử thách và lập nên nhiều chiến công hiển hách. Chìa khóa để làm nên thắng lợi là Việt Nam luôn có chủ trương đổi mới, luôn cân nhắc sửa đổi, hoàn thiện đường lối, chính sách, luật pháp cho phù hợp với quy luật khách quan của công cuộc đấu tranh xã hội và thiên nhiên. Kinh nghiệm của 74 năm qua cũng cho thấy, khi nạn quan liêu, độc đoán, mất dân chủ và tệ nhất là tính bảo thủ xảy ra mà không kịp ngăn chặn, khắc phục thì nhiều hậu quả xấu tất sẽ xảy ra.

Để Việt Nam bứt phá ngoạn mục hơn trong thời gian tới

Việt Nam hiện còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng đồng thời đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi lớn. Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Ngày 30/6/2019, Việt Nam và Liên minh châu Âu đã ký kết Hiệp định thương mại tự do và Hiệp định bảo hộ đầu tư. Làn sóng đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam cũng như cơ hội để Việt Nam xuất khẩu hàng hóa ra các nước hứa hẹn nhiều triển vọng sáng sủa. Song song với các thuận lợi đã nêu, nhân dân cả nước còn vui mừng hơn khi Đảng và Nhà nước tiếp tục có những điều chỉnh về đường lối, chính sách và thay đổi về phong cách quản lý, lãnh đạo. Hướng về cơ sở, tăng cường tiếp xúc, đối thoại với dân, lắng nghe tiếng nói phản biện của các nhà khoa học và nhân dân, đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng - những cách làm cụ thể của việc mở rộng dân chủ, đã tăng cường lòng tin trong nhân dân.

Dư luận chung của nhân dân đều mong rằng trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước tập trung làm thật tốt ba công việc sau đây để đưa Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu và bứt phá lên những đỉnh cao mới: 1) Khắc phục triệt để những hiện tượng lệch lạc trong kêu gọi đầu tư của nước ngoài; 2) Chống tham nhũng một cách triệt để hơn, cơ bản hơn; 3) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào đấu tranh chống sự tha hóa của đảng viên có chức, có quyền và viên chức nhà nước.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kêu gọi đầu tư của nước ngoài

Thiếu vốn và tình trạng công nghệ lạc hậu là hai căn bệnh trầm kha của các nước chậm phát triển. Việt Nam nay đã trở thành nước đang phát triển, nhưng vẫn chịu sự tác động của hai căn bệnh đó. Kinh nghiệm hợp tác đầu tư của Việt Nam với nước ngoài trong 30 năm qua đã giúp cho Việt Nam rút ra được nhiều bài học. Mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiệp đã không về đích. Để thoát khỏi tình trạng chỉ là nước gia công đặt hàng của nước ngoài, Việt Nam phải nhanh chóng thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và kiên quyết từ chối tiếp nhận các công nghệ lạc hậu và các khoản đầu tư lớn vượt khả năng trả nợ của đất nước hoặc những công trình đầu tư dẫn đến việc làm mất sinh kế của người dân và đe dọa an ninh, an toàn đất nước.

Chống tham nhũng một cách cơ bản hơn

Trong đấu tranh chống tham nhũng, nước ta mới tập trung vào những vụ án lớn, tham nhũng vặt chưa có dấu hiệu suy giảm. Với tham nhũng, không những đòi hỏi phải xử lý nghiêm (không có vùng cấm), mà phải có cách đấu tranh mang tính cơ bản hơn. Trong đấu tranh chống tham nhũng, có ba phương châm cơ bản: 1) Không thể tham nhũng; 2) Không cần tham nhũng và 3) Không muốn tham nhũng. Phương châm không thể tham nhũng phải được đặt ở vị trí hàng đầu. Phương châm không thể tham nhũng được thực hiện bằng một loạt biện pháp cụ thể như:

+ Kịp thời sửa đổi những kẽ hở của pháp luật, chính sách, chế độ. Ở Việt Nam, tham nhũng xảy ra nhiều nhất thuộc lĩnh vực đất đai. Việc áp dụng cách “chỉ định thầu” trong mua sắm công, trong xây dựng các công trình BOT, BT, thay cho đấu thầu công khai, minh bạch là một trong những kẽ hở lớn của pháp luật hiện hành để cho những kẻ tham nhũng, những nhóm lợi ích thao túng;

+ Ban hành văn bản quy định việc kê khai tài sản của công chức, viên chức. Kê khai tài sản là nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của những ứng cử viên vào các cơ quan quyền lực của mọi công chức, viên chức từ cấp cơ sở đến trung ương;

+ Ban hành văn bản tạo điều kiện cho rộng rãi nhân dân tham gia đấu tranh chống tham nhũng và bảo vệ những người hăng hái, tích cực trong đấu tranh chống tham nhũng;

+ Ban hành văn bản tạo điều kiện cho những kẻ trót “nhúng chàm” tự nguyện sửa chữa lỗi lầm sẽ được giảm nhẹ hoặc tha miễn hình phạt, không bị nêu tên công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng khi họ tự nguyện nộp lại tài sản cho Nhà nước trước khi vụ việc được phát hiện và khởi tố điều tra (Chế định này tuy đã được quy định trong Bộ luật Hình sự, nhưng nay cần được nhấn mạnh trong đấu tranh chống tham nhũng).

Để thực hiện phương châm “không thể tham nhũng” còn có nhiều biện pháp cụ thể khác, như: quy định các chức vụ, trách nhiệm không được kiêm nhiệm, việc nhận quà biếu của các tổ chức nước ngoài, việc cấm những người có quan hệ bà con ruột thịt cùng làm việc trong một cơ quan, trong cùng ngành nếu giữa họ có quan hệ chỉ huy phục tùng, phụ thuộc, quy định các chức vụ người đứng đầu các cơ quan đảng, chủ tịch, công an, tòa án, kiểm sát không phải là người của địa phương… Nếu làm tốt ba việc nêu trên chắc chắn sẽ có những chuyển biến cơ bản trong đấu tranh chống tham nhũng.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra

Gần đây, Đảng và Nhà nước đã tăng cường công tác thanh tra và kiểm tra. Kết quả thanh tra, kiểm tra đã được thông báo rộng rãi cho nhân dân. Điều này có tác dụng tốt trên nhiều mặt đối với công tác phòng ngừa và ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực. Buông lỏng công tác thanh tra, kiểm tra, về thực chất, là buông lỏng quản lý. Nhân dân mong muốn, một mặt cần đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, đồng thời phải hoàn thiện chế độ, phương pháp tiến hành để tránh rối, bận cho cơ quan nơi được tiến hành thanh tra, kiểm tra.

Đã đến lúc Đảng và Nhà nước cần quy định rõ chế độ thanh tra, kiểm tra định kỳ và bất thường đối với các cấp để không một cấp nào, cá nhân nào đứng trên, đứng ngoài các cuộc thanh tra và tránh sự trùng lặp, chồng chéo các cuộc thanh tra, kiểm tra. Tất cả các vụ tham nhũng đã được các Ban Kiểm tra Đảng các cấp, Thanh tra Chính phủ phát hiện chủ yếu là do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.

Cần phân định rõ đối tượng thanh tra, kiểm tra của các cấp để không trùng lặp nhau, làm thay nhau. Đối tượng thanh tra, kiểm tra của Chính phủ là cấp bộ, cấp tỉnh. Đối tượng thanh tra của cấp bộ, tỉnh là cấp huyện, quận, sở. Đối tượng thanh tra của cấp huyện, quận là xã, phường. Việc tiến hành thanh tra, kiểm tra của trung ương, của bộ đối với cấp cơ sở chỉ trong trường hợp cần thiết.

Trong các lần tiến hành đối thoại với nhân dân để giải quyết các vụ vi phạm về luật đất đai cần tạo điều kiện cho luật sư của nhân dân, đại diện của chính quyền tham gia phản biện kết luận của thanh tra, kiểm tra. 

Đã đến lúc cần nêu câu hỏi rằng, Việt Nam đã “chế tạo” ra sản phẩm công nghệ gì thay cho câu hỏi Việt Nam đã “sản xuất” ra những sản phẩm gì. Nếu bỏ tiền để nhập công nghệ cao về sản xuất thì Việt Nam mãi mãi vẫn là nước tụt hậu. Nếu hàng hóa Việt Nam không có hàm lượng chất xám cao, kể cả hàng tiêu dùng như sữa, cá, thịt, cho đến máy móc sản xuất trong công nghiệp thì sẽ bị hàng hóa của các nước có chất lượng cao hơn mà giá lại rẻ hơn chiếm lĩnh và đánh bật ra khỏi thị trường Việt Nam. Vì vậy, cần có biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hai biện pháp tiếp theo là cần lấy việc không thể tham nhũng làm phương châm chính trong phòng, chống tham nhũng và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra là những biện pháp nhằm làm trong sạch nội bộ và nâng cao khả năng lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước.

Ba biện pháp nêu trên, thứ nhất thuộc về lĩnh vực đối ngoại - vấn đề thu hút vốn và công nghệ tiên tiến của nước ngoài; thứ hai thuộc về lĩnh vực đối nội - nâng cao khả năng và thứ ba là làm trong sạch đội ngũ bộ máy quản lý nhà nước. Ba biện pháp này có liên quan chặt chẽ với nhau.

Luật sư Lê Đức Tiết, nguyên Phó Chủ nhiệm HĐTV Dân chủ - Pháp luật, UBTƯ MTTQ Việt Nam

Chú thích:

1. Sau khi xâm chiếm làm thuộc địa, thực dân Pháp đã đặt tên ba nước Việt Nam, Lào, Cam pu chia là “Indo-China”, có nghĩa là vùng đất nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc, về sau được gọi Đông Dương - vùng đất gần biển Đông.

2. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, các cuộc nội chiến, các cuộc chiến tranh với mục đích tranh giành lãnh thổ, tài nguyên giữa các nước đều được một số nước lớn đứng đàng sau ủng hộ, chi viện về tiền bạc, vũ khí là các cuộc “chiến tranh ủy nhiệm”.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều