Đại hội III, Đại hội IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Đại hội của đoàn kết và đổi mới

(Mặt trận) - Trải qua mỗi kỳ Đại hội, với những chiến lược, nhiệm vụ và đổi mới trong hoạt động, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thể hiện sự lớn mạnh và phát huy tốt vai trò là cầu nối khơi gợi và quy tụ dân tộc thành một khối thống nhất. Trong bối cảnh ấy, Đại hội III, Đại hội IV diễn ra với quyết tâm tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận, đưa công tác Mặt trận lên ngang tầm nhiệm vụ chính trị, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của quần chúng và xu thế của thời đại.

Đại biểu tại Đại hội lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Đại hội đoàn kết và đổi mới, đưa công tác Mặt trận lên ngang tầm nhiệm vụ chính trị

Đại hội lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam diễn ra từ ngày 2 đến ngày 4/11/1988 tại Thủ đô Hà Nội.

Tham dự Đại hội có 586 đại biểu chính thức, 120 khách mời và 14 đoàn dự đại biểu các tổ chức, phong trào Mặt trận các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười đến dự và phát biểu ý kiến với Đại hội. Tham dự Đại hội còn có các vị cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ.

Trong diễn văn Khai mạc Đại hội, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Khóa II) nêu rõ: Đại hội lần này của chúng ta là Đại hội tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đưa công tác Mặt trận và tổ chức Mặt trận lên ngang tầm nhiệm vụ chính trị. Đây là đòi hỏi cấp bách của quần chúng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đây cũng là trách nhiệm phải tự đổi mới của Mặt trận. Đây cũng là xu thế của thời đại.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có bài phát biểu quan trọng với chủ đề: “Mặt trận Tổ quốc hãy cùng với Đảng và Nhà nước đồng tâm hiệp lực trong cùng một đội ngũ cách mạng kiên cường”. Sau khi phân tích những thuận lợi cùng những khó khăn mới, đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ: “Đổi mới là một quá trình, phải có những bước đi và cách làm phù hợp, không thể nôn nóng, vội vã”… Đổi mới không phải là con đường tráng nhựa bằng phẳng cho ta tiến nhanh lên được, mà là con đường gập ghềnh, quanh co, phải vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại, nhiều khi phải tìm tòi, mò mẫm mà đi. Điều quan trọng là mọi người chúng ta phải giữ được bản chất cách mạng, vững tin ở những mục tiêu và phương hướng hành động mà Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã đề ra. Điều cũng hết sức quan trọng là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không đứng ngoài cuộc, mà hãy cùng với Đảng và Nhà nước đồng tâm hiệp lực cùng một đội ngũ cách mạng kiên cường, khắc phục khó khăn, phấn đấu ổn định tình hình kinh tế - xã hội bằng những hành động cách mạng cụ thể, nói đi đôi với làm”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã “hoan nghênh bản báo cáo đã phản ánh sát thực tình hình công tác Mặt trận và điều quan trọng là đã chỉ rõ được phương hướng, nội dung tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận, phù hợp với quá trình đổi mới trên các lĩnh vực hoạt động của Đảng và Nhà nước ta và xu hướng đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa anh em… Là một thành viên, Đảng Cộng sản Việt Nam tán thành những phương hướng, nhiệm vụ đã đề ra, tích cực ủng hộ và tạo những điều kiện thuận lợi để Mặt trận vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình trong giai đoạn mới của cách mạng”. Đồng chí nhấn mạnh: “Trong cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, muốn đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì trước hết, Đảng phải đổi mới sự lãnh đạo của mình đối với công tác Mặt trận. Phải coi sự đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng là điểm mấu chốt để triển khai sự đổi mới của hệ thống Mặt trận”.

Phát biểu trước Đại hội, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười khẳng định: “Trong điều kiện nhân dân ta làm chủ đất nước thông qua Nhà nước của mình, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của Mặt trận đoàn kết toàn dân, chỗ dựa vững chắc của Nhà nước, càng trở nên quan trọng”. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng hứa: “Sẽ bàn bạc với Đoàn Chủ tịch và Ban Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để sớm có một văn bản thỏa thuận về quy chế hợp tác phối hợp giữa các cấp chính quyền và Mặt trận nhằm giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ và cùng chung vai gánh vác đưa đất nước ta vượt qua khó khăn để vững bước tiến lên”.

Bản báo cáo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa II) đánh giá: Năm năm qua đã có một số chuyển biến tích cực trong việc thực hiện Chương trình hành động của Đại hội lần thứ II Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận đã có những hoạt động thiết thực, chú ý nhiều đến công tác Mặt trận cơ sở, trên địa bàn dân cư. Mặt trận Tổ quốc đã làm nòng cốt hoặc tích cực tham gia phát động một số phong trào quần chúng trên quy mô cả nước, có ý nghĩa quan trọng…

Kết quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc tuy chưa nhiều, chưa đều khắp, nhưng là những tiến bộ có ý nghĩa, là điều kiện thuận lợi để vươn lên đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay.

Đại hội đưa ra 3 định hướng nhằm tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận:

1. Mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng Mặt trận Tổ quốc về hoạt động thực tiễn và về tổ chức, đồng thời đề cao trách nhiệm cho tinh thần rộng mở trong xã hội, thực hiện rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân.

2. Hướng mọi hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên vào việc thực hiện một cách thiết thực những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của đất nước, của địa phương, của cuộc sống. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân thực hiện đổi mới tổ chức hệ thống chính trị, sinh hoạt chính trị xã hội và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Tập trung vào việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố chính quyền nhân dân và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội.

3. Phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, tạo lực vươn lên là tư tưởng chỉ đạo trong việc tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận là nhằm tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Vì vậy, Đại hội yêu cầu các cấp Mặt trận, các tổ chức thành viên quán triệt 4 quan điểm sau:

+ Lợi ích cơ bản của nhân dân, của dân tộc ta ngày nay là độc lập, tự do và cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong chủ nghĩa xã hội. Lợi ích đó thể hiện cụ thể hàng ngày trong mọi mặt của cuộc sống.

Củng cố, tăng cường đoàn kết không thể chung chung, mà phải gắn chặt với việc đảm bảo thực hiện các lợi ích đó.

+ Một trong những động lực thúc đẩy nhân dân tăng cường đoàn kết trong tình hình hiện nay là quyền làm chủ đất nước… Nhân dân thực sự được làm chủ mới tăng cường đoàn kết và tích cực hành động cách mạng.

+ Thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với các giai cấp, các tầng lớp nhân dân không chỉ là công việc và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, mà còn là công việc và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải ra sức đóng góp làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng luôn luôn bền chặt, thông suốt hai chiều, ý Đảng lòng dân là một.

+ Trong giai đoạn mới, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tác động trực tiếp và quyết định đến kết quả xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Do đó, trong hoạt động của mình, Mặt trận Tổ quốc không chỉ tuyên truyền, vận động, thực hiện, mà phải chú trọng tổ chức, hướng dẫn nhân dân tham gia xây dựng và giám sát thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật.

Căn cứ vào 3 định hướng và 4 quan điểm nêu trên, Đại hội đã thông qua Chương trình hành động 6 điểm cho nhiệm kỳ (1988 - 1993):

1. Tham gia xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với 4 nội dung: Tham gia xây đựng chính quyền nhân dân trong sạch, vững mạnh; Tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Tổ chức thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân; Vận động nhân dân tích cực tham gia cuộc vận động “Làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và hiệu lực của bộ máy Nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội”.

2. Vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm nhằm thực hiện các chương trình kinh tế và kế hoạch Nhà nước với yêu cầu:

Động viên công nhân viên chức phát huy tinh thần làm chủ, cùng Nhà nước thực hiện việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ tệ quan liêu bao cấp chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, tháo gỡ khó khăn, giải phóng mọi lực lượng sản xuất, bảo đảm quyền tự chủ của các cơ sở sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sáng tạo.

Mặt trận Tổ quốc các cấp nắm lại tình hình sản xuất kinh doanh tư nhân, cá thể; kịp thời phát huy những nhân tố mới trong sản xuất, kinh doanh, nhất là trong sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu; phát hiện những trở ngại, khó khăn kiến nghị với Nhà nước kịp thời tháo gỡ.

Đi đôi với việc vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, Mặt trận phát động phong trào đấu tranh chống lãng phí, tham ô, tệ ăn cắp của công, ăn hối lộ, xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản công dân.

3. Vận động nhân dân thực hiện các chính sách xã hội và văn hóa, tập trung vào một số nội dung: Thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ lão thành cách mạng, những người về hưu, những người có công với nước và các cụ phụ lão; Tạo điều kiện cho thanh niên được học hành, có công ăn, việc làm, được vui chơi, giải trí, có lối sống lành mạnh; Đối với trí thức, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần tạo điều kiện thuận lợi để anh chị em phát huy được tài năng, trí tuệ, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Đối với đồng bào các dân tộc cần thấm nhuần và thực hiện Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”; Đối với đồng bào các tôn giáo, kiến nghị với Đảng và Nhà nước những chủ trương biện pháp làm cho mọi người hiểu rõ, làm đúng và xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm chính sách; Đối với đồng bào Việt Nam sống ở nước ngoài, giúp đồng bào hiểu rõ tình hình đất nước và tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào được về thăm quê hương, giúp đỡ gia đình, người thân ở trong nước và góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa của đất nước.

4. Vận động nhân dân tham gia xây dựng, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

5. Mở rộng và tăng cường hoạt động đối ngoại của Mặt trận Tổ quốc.

6. Chương trình hành động trên không thể thực hiện được nếu không đổi mới phương thức hoạt động và củng cố, tăng cường tổ chức của Ủy ban Mặt trận các cấp.

Về đổi mới phương thức hoạt động, Đại hội yêu cầu:

+ Tổ chức tốt việc phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên, giữa Mặt trận với chính quyền từ Trung ương đến cơ sở.

+ Hướng mạnh về cơ sở; giúp cơ sở củng cố và mở rộng đoàn kết, đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng đời sống mới, tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, từng bước thực hiện chế độ tự quản trên địa bàn dân cư.

Về củng cố, tăng cường tổ chức của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, Đại hội yêu cầu:

+ Kiện toàn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, đảm bảo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc vừa tiêu biểu cho khối đoàn kết toàn dân, vừa thiết thực trong hoạt động.

+ Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp và ổn định đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận.

+ Thành lập các ban chuyên đề, trước hết là ở cấp Trung ương và cấp tỉnh1, thành phố trực thuộc Trung ương về các vấn đề dân chủ và pháp luật, kinh tế - xã hội… Các ban này không nằm trong biên chế, bao gồm những chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực hoạt động…

Đại hội đã cử ra Ủy ban Trung ương gồm 212 vị, Đoàn Chủ tịch 30 vị và Ban Thư ký gồm 6 vị, Chủ tịch Hoàng Quốc Việt được suy tôn làm Chủ tịch danh dự, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch. Hai Phó Chủ tịch gồm: Luật sư Phan Anh và Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Phạm Văn Kiết. Các vị Ủy viên thư ký gồm: Hồ Anh Dũng, Mai Khang, Nguyễn Tiến Thụ, Hoàng Thái, Nguyễn Túc.

Trong diễn văn Bế mạc, Chủ tịch, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nhấn mạnh: “Đại hội hôm nay là điều kiện quan trọng và là sức mạnh để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, là tiêu đề cần thiết tạo nên sự thống nhất cao trong hành động ngày mai... Đại hội chúng ta đã thành công tốt đẹp. Nhưng cũng có mới thành công trong Hội trường. Nhân dân đòi chúng ta đồng tâm, hiệp lực, thống nhất hành động để biến những thành công trong Đại hội thành hiện thực trong cuộc sống2.

Đại hội IV - Đại hội đại đoàn kết dân tộc, củng cố và tăng cường Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vì độc lập dân tộc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tiến hành trọng thể vào hai ngày 17 và 18/8/1994 tại Thủ đô Hà Nội.

Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười dự và có bài phát biểu quan trọng.

Dự Đại hội có các đồng chí cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công. Đồng chí Lê Đức Anh, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng chí Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội, đồng chí Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Chính phủ và nhiều đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Tham dự Đại hội có 621 đại biểu chính thức và 125 đại biểu khách mời, so với 3 kỳ Đại hội trước, Đại hội lần này có thành phần tham gia rộng rãi nhất với tinh thần “Lấy đại nghĩa dân tộc làm trọng, lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, hận thù, hướng về tương lai, hòa hợp thành một khối thống nhất vì lợi ích của đất nước và dân tộc, cùng nhau ra sức phấn đấu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm thất bại mọi mưu toan của bất cứ thế lực nào cản trở bước tiến lên của dân tộc ta”3.

Về khối đại đoàn kết dân tộc và công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam qua hơn 5 năm, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III đến nay, báo cáo Đại hội nhận định: Đối với nhân dân và đất nước ta, đây là thời kỳ có nhiều khó khăn, thử thách gay gắt. Song, với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, với truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết phấn đấu của nhân dân, đất nước chẳng những đứng vững mà còn vươn lên đạt những thành tựu to lớn, khắc phục được một bước rất quan trọng trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiếp tục giữ vững và cũng cố sự ổn định chính trị, mở rộng quan hệ đối ngoại… Chính những thành tựu trên đã làm tăng thêm niềm tin và sự phấn khởi trong nhân dân, tăng thêm sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội đối với sự nghiệp đổi mới.

Đại hội đặc biệt quan tâm và thảo luận sâu về sự thay đổi cấu trúc xã hội qua 8 năm đất nước bước vào công cuộc đổi mới:

Đối với giai cấp công nhân, không còn thuần nhất như thời bao cấp; đời sống một bộ phận được cải thiện, nhưng nhìn chung, mức sống thấp hơn so với mức trung bình của toàn xã hội và không ổn định. Một bộ phận công nhân, chủ yếu là trong khu vực nhà nước, ra khỏi dây chuyền sản xuất, không có việc làm, đời sống hết sức khó khăn; một bộ phận khác thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tiếp cận với công nghệ hiện đại nên cuộc sống khá hơn…

Công nhân mong muốn có việc làm có thu nhập đủ sống và đúng với giá trị sức lao động bỏ ra.

Giai cấp nông dân có sự “chuyển mình” nhanh chóng, từ chỗ đại bộ phận sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, đã nhanh chóng chuyển sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, dịch vụ. Trong nông thôn đã xuất hiện nhiều hộ kinh doanh tổng hợp. Cấu trúc trong giai cấp nông dân ngày càng da dạng: nông dân cá thể, nông dân xã viên, nông dân làm thuê, chủ trang trại, nông dân thương nghiệp… Song, ở nhiều nơi vẫn chưa thoát khỏi kinh tế tự cấp, tự túc; đời sống nông dân nhiều vùng còn rất khó khăn.

Cùng với giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức giữ vai trò tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với trên 70 vạn người có trình độ đại học và trên đại học, nước ta được xếp vào nước có tỷ lệ trung bình so với thế giới, song lại thấp hơn so với các nước trong khu vực. Số trí thức bỏ cơ quan, xí nghiệp nhà nước ra làm ngoài ngày càng tăng; nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học không tìm được việc làm; một bộ phận phải chuyển sang cho lao động chân tay…

Nguyện vọng chung của trí thức là muốn có điều kiện tốt để phát triển tài năng và cống hiến nhiều hơn cho Tổ quốc.

Qua 8 năm đổi mới đã xuất hiện và phát triển những chủ doanh nhân tư nhân kinh doanh đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Nhiều chủ doanh nhân là trí thức, trong đó có cả cán bộ, đảng viên, gia đình cách mạng. Đó là những người có trình độ khoa học, kỹ thuật, quản lý, có vốn và có khả năng huy động vốn trong nước và nước ngoài. Song, vẫn còn nhiều người có vốn nhưng chưa bỏ vào sản xuất kinh doanh. Nếu Nhà nước có luật khuyến khích đầu tư và được quản lý tốt, thành phần kinh tế mới này sẽ đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội. Yêu cầu hiện nay là cần phát triển nhanh nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phù hợp quy luật phát triển xã hội và tình hình thực tế nước ta để đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất, sớm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

Cùng với chủ trương sắp xếp lại lao động và khuyến khích nhân dân tự tạo lấy việc làm, số hộ tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương và làm dịch vụ bung ra nhanh chóng.

Báo cáo trước Đại hội cũng đề cập đến những chuyển biến trong thanh niên, phụ nữ, người cao tuổi, trong đồng bào các dân tộc thiểu số, tín đồ các tôn giáo, trong kiều bào và trong hàng triệu người trước đây làm việc trong chế độ cũ ở miền Nam…

Nhìn chung, cùng với sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngày càng ổn định và có bộ phận được cải thiện rõ rệt, song bộ phận dân cư nghèo còn nhiều, nhất là ở miền núi. Lòng tin vào đường lối đổi mới, vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước được củng cố và tăng cường. Nhân dân còn nhiều băn khoăn, lo lắng, tập trung nhất là vấn đề việc làm, học hành, chữa bệnh; nông sản làm ra khó tiêu thụ, lo cơ chế thị trường dẫn đến bất công xã hội, khoảng cách giàu nghèo càng lớn…

Nhân dân bất bình trước tình hình nhiều người làm giàu bất chính, tệ tham nhũng, tình trạng buôn lậu, tiêu pha lãng phí; nạn mại dâm, ma túy, giá trị đạo đức xuống cấp; văn hóa phẩm độc hại đồi trụy tràn lan; kỷ cương phép nước chưa nghiêm; quyền dân chủ của nhân dân còn bị vi phạm…

Tình hình trên cho thấy: “Đoàn kết dân tộc tuy được củng cố nhưng chưa vững chắc và chưa mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, còn những nhân tố gây mất ổn định” như Báo cáo Chính trị đã khẳng định. Đáp ứng nguyện vọng cơ bản và bức xúc của nhân dân, Đại hội mong muốn Đảng và Nhà nước sớm hoàn thiện các chính sách đối với công nhân, nông dân và trí thức; bồi dưỡng và phát huy lực lượng thanh niên, phụ nữ; bổ sung và hoàn thiện các chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, các tôn giáo, các nhà công thương, cộng đồng người Việt Nam sống ở nước ngoài; mong muốn Đảng tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn có kết quả để nâng cao bản lĩnh và năng lực lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Nhà nước trong sạch vững mạnh, quản lý có hiệu lực, hiệu quả, cùng toàn dân đưa đất nước phát triển nhanh, vững chắc tiến kịp các nước trong khu vực. Về công tác Mặt trận, thực hiện phương hướng và nhiệm vụ mà Đại hội III đã đề ra, 5 năm qua Ủy ban Mặt trận và các tổ chức thành viên đã đạt được những thành tựu và có bước tiến mới; góp phần tích cực vào thành tựu chung của đất nước. Vị trí, vai trò của Mặt trận ngày càng được khẳng định trong cuộc sống.

Bước tiến mới đó được thể hiện trên nhiều mặt, tập trung vào 3 lĩnh vực sau:

1. Góp phần tích cực vào việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước của dân, do dân, vì dân; giữ vững và củng cố sự ổn định chính trị, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân.

2. Chủ động đề xuất và tổ chức, vận động rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện các chính sách xã hội và từng bước xã hội hóa một số chính sách xã hội.

3. Tiến thêm một bước trong hoạt động và củng cố Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở, trên địa bàn dân cư.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quyết định nhiệm vụ chung trong những năm tới là: “Phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam tán thành công cuộc đổi mới nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ trên thế giới”.

Để hoàn thành nhiệm vụ chung nêu trên, Đại hội nhất trí thực hiện một số chủ trương lớn sau:

1. Đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo người trong nước và người định cư ở nước ngoài tán thành công cuộc đổi mới nhằm mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đại đoàn kết dân tộc chủ yếu phải lấy mục tiêu đó làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những sự khác nhau, không trái với lợi ích chung của dân tộc, cùng nhau xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù, hòa hợp thành một khối thống nhất, hướng về tương lai, xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau, tất cả vì độc lập của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân.

2. Đại đoàn kết dân tộc là đường lối cơ bản của Đảng và Nhà nước. Tư tưởng đại đoàn kết phải được thể hiện trong mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại nhằm đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của các giai tầng xã hội, gắn quyền lợi với trách nhiệm, lợi ích riêng của mỗi người với nghĩa vụ công dân, lấy lợi ích dân tộc làm trọng, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi nhằm triệt để giải phóng sức sản xuất, khuyến khích mọi người, mọi thành phần kinh tế phát huy cao độ nguồn lực và tài năng, sáng tạo, ra sức phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu hợp pháp, cần kiệm xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, đồng thời khuyến khích toàn dân thực hiện các chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với nước, tham gia các công việc công ích, các hoạt động nhân đạo từ thiện, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, phát huy truyền thống nhân nghĩa của cha ông.

3. Xây dựng chính quyền nhân dân trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực cao, thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chính quyền nhân dân phải bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của dân, giữ gìn trật tự, kỷ cương, phép nước; hoàn chỉnh và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước; xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội; bảo vệ và chấn hưng nền văn hóa dân tộc đi đôi với tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; xây dựng con người mới; củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; mở rộng hệ đối ngoại.

4. Mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc bằng các hình thức tập hợp đa dạng theo đúng pháp luật Nhà nước. Tổ chức và phát triển các phong trào hành động chung từ thấp đến cao; sáng tạo thêm nhiều hình thức hoạt động phù hợp với từng thành phần xã hội. Coi trọng vai trò tích cực của người tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo và các vị cách mạng lão thành, các nhà trí thức… Hướng hoạt động tới địa bàn dân cư, xã, phường và hộ gia đình. Củng cố liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức thực sự làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân.

Nhằm từng bước cụ thể hóa nhiệm vụ chung và những chủ trương lớn, Đại hội đã quyết định những nhiệm vụ chủ yếu nhiệm kỳ 1994 - 1999 như sau:

1. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước với những việc làm cụ thể:

+ Tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

+ Tổ chức nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng và các đạo luật liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ công dân.

+ Góp phần tích cực vào việc cải tiến chế độ bầu cử và thực hiện tốt hiệp thương dân chủ trong việc giới thiệu những người có đức, có tài ra ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

+ Nghiên cứu, kiến nghị Nhà nước thể chế hóa chức năng giám sát của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân theo Điều 9 Hiến pháp 1992 và Luật Tổ chức Chính phủ.

+ Tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất cách mạng cho đoàn viên, hội viên; phấn đấu không để đoàn viên, hội viên vi phạm các tội tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội khác; xây dựng kế hoạch, phối hợp giữa các tổ chức thành viên trong Mặt trận với chính quyền nhằm tạo ra phong trào quần chúng trong công cuộc đấu tranh này.

2. Vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, tự mình vươn lên và giúp đỡ nhau cải thiện đời sống, làm giàu hợp pháp, xóa đói giảm nghèo:

+ Tham gia tích cực với chính quyền thúc đẩy chuyển dịnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

+ Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước.

+ Tích cực tham gia việc huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả.

+ Khuyến khích kinh tế gia đình, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân phát triển đúng chính sách và pháp luật, khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với giúp nhau xóa đói, giảm nghèo.

+ Vận động nhân dân thực hiện tốt chương trình về giải quyết việc làm; phát triển các hình thức dạy nghề, truyền nghề.

+ Đẩy mạnh phong trào xóa đói, giảm nghèo.

3. Vận động nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các chính sách văn hóa, xã hội và xã hội hóa công tác văn hóa - xã hội:

+ Cùng với ngành lao động, thương binh xã hội có kế hoạch trong việc chăm sóc và phát huy khả năng của các gia đình có công với nước, gia đình liệt sĩ, thương binh. Vận động nhân dân cùng Nhà nước lập Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” những người có công với nước.

+ Đẩy mạnh phong trào “Tuổi cao chí càng cao” gắn với phong trào “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con trung hiếu, cháu thảo hiền”.

+ Vận động phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, bài trừ các tệ nạn xã hội, nhất là nạn mại dâm và ma túy.

+ Vận động nhân dân thực hiện và giám sát chủ trương, chính sách đối với dân tộc thiểu số, chính sách tự do tín ngưỡng, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

4. Vận động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng nền quốc phòng toàn dân:

+ Thường xuyên vận động nhân dân nâng cao cảnh giác, tăng cường đoàn kết chống lại mọi âm mưu hành động chiến tranh tâm lý, gây chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch.

+ Tăng cường cơ sở chính trị trong phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc và phong trào giữ vững trật tự an toàn xã hội.

+ Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động theo Nghị quyết liên tịch giữa Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Nội vụ.

5. Mở rộng hoạt động ngoại nhân dân:

+ Củng cố và tăng cường mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị với các tổ chức truyền thống; mở rộng quan hệ với nhiều tổ chức, phong trào phi Chính phủ và các cá nhân ở các nước. Tích cực tham gia các hoạt động quốc tế như bảo vệ môi trường, chống các bệnh hiểm nghèo, khắc phục đói nghèo.

+ Cần tạo sự phối hợp có hiệu quả giữa Ủy ban Mặt trận với các tổ chức thành viên, giữa Mặt trận với Nhà nước, đồng thời phải kiện toàn bộ máy, bồi dưỡng, đào tạo, bố trí cán bộ đủ phẩm chất và năng lực làm công tác đối ngoại.

Tại Đại hội, Tổng Bí thư Đỗ Mười thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đọc bài diễn văn quan trọng. Cùng với việc xác định rõ hơn mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận, giữa Nhà nước với Mặt trận trong công cuộc đổi mới, đồng chí đã nhấn mạnh nhiệm vụ trọng đại của Mặt trận trong giai đoạn hiện nay.

Đại hội đã thảo luận và thông qua: Báo cáo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về tình hình và nhiệm vụ công tác Mặt trận; Báo cáo sửa đổi Điều lệ và Điều lệ (sửa đổi); Chương trình Đại đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Đại hội đã cử ra Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa IV gồm 206 vị với thành phần rộng hơn, bao gồm những người vừa tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân, vừa có khả năng đảm đương trọng trách nặng nề mà Đại hội giao phó, vừa thể hiện tính liên tục và tính kế thừa và phát triển của Mặt trận.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cử ra Đoàn Chủ tịch gồm 40 vị do đồng chí Lê Quang Đạo làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch.

Đại hội suy tôn Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch danh dự.

Trong diễn văn Bế mạc Đại hội, Chủ tịch Lê Quang Đạo nêu rõ: “… Thành công của Đại hội tạo thêm nguồn sức mạnh để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc thống nhất. Chặng đường phía trước có nhiều thuận lợi mới, vận hội mới, đồng thời cũng có nhiều khó khăn và thử thách mới, đòi hỏi nhân dân ta phải đồng tâm, hiệp lực thống nhất hành động để biến những thành công của Đại hội thành hiện thực trong cuộc sống”.

Nguyễn Túc

Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTW MTTQ Việt Nam

Chú thích:

1. Nay là Hội đồng tư vấn, tổ chức tư vấn.

2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trang 89, 90.

3.  Trích phát biểu của Tổng Bí thư Đỗ Mười tại Đại hội.

 

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều