Vai trò của Việt Nam trong việc tăng uy tín của ASEAN

(Mặt trận) - Việt Nam đã và đang trở thành động lực kinh tế của ASEAN, là một trong những đầu tàu giải quyết quan hệ chính trị và xung đột khu vực. Luôn là thành viên tích cực trong mọi hoạt động nhằm tăng uy tín của ASEAN trên trường quốc tế.

Việt Nam đã thể hiện là quốc gia tích cực, có trách nhiệm, đóng góp các sáng kiến, giải pháp thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN.. Ảnh minh họa - Nguồn: VOV

1. Uy tín hiện tại của ASEAN trên trường Quốc tế

ASEAN hiện có quy mô dân số 635 triệu dân, GDP khoảng 3.000 tỷ USD, tổng kim ngạch thương mại hàng năm hơn 1.000 tỷ USD, trong đó thương mại nội khối chiếm 1/4, là nền kinh tế lớn thứ sáu thế giới và thứ ba châu Á sau Trung Quốc và Nhật Bản và được dự báo sẽ là nền kinh tế lớn thứ tư thế giới vào năm 2025. 

ASEAN là một điểm đến được các nhà đầu tư ưu tiên lựa chọn, chiếm khoảng 7% tổng dòng vốn FDI toàn cầu trong năm 2015. Từ rất sớm, nhận thức rõ tầm quan trọng không thể thiếu của các nước lớn, các đối tác trong và ngoài khu vực, ASEAN đã có nhiều nỗ lực nhằm quản lý quan hệ với các nước lớn và các đối tác dưới nhiều hình thức khác nhau, đồng thời tìm cách chèo lái quan hệ với các nước lớn  theo hướng có lợi nhất cho ASEAN và khu vực Đông Nam Á. Để đạt được mục tiêu này, ASEAN đã sáng tạo ra nhiều loại “quy chế đối thoại” để trao cho các nước lớn, các đối tác trong và ngoài khu vực, căn cứ vào năng lực, hoàn cảnh của từng đối tác cũng như nhu cầu của ASEAN.

Về bản chất, “quy chế đối thoại” là phương thức xử lý quan hệ với các nước lớn, các đối tác thông qua đối thoại, hợp tác ở các mức độ khác nhau nhằm tăng cường xây dựng lòng tin, tránh hiểu nhầm, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, thay vì sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Đây là dấu ấn riêng của ASEAN mà không có bất kỳ tổ chức nào trên thế giới có được.

Tính đến năm 2018, ASEAN có 10 đối tác đối thoại chính thức, trong đó có 8 quốc gia và 2 tổ chức quốc tế là Liên hợp quốc và Liên minh châu Âu (EU). Có 6 đối tác đối thoại được thiết lập từ những năm 1970, gồm: Australia (1974), New Zealand (1975), Canada, EU, Nhật Bản, Mỹ và LHQ (1977). Riêng quan hệ đối thoại với LHQ sau này được thay thế bằng đối tác toàn diện. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, ASEAN lập thêm quan hệ đối thoại với 4 đối tác là Hàn Quốc (1991), Ấn Độ (1995), Trung Quốc và Nga (1996).

Thấp hơn một chút là quy chế đối thoại ngành, chỉ tập trung quan hệ và đối thoại vào một hoặc một vài lĩnh vực mà hai bên cùng có lợi ích chung. Hiện nay, ASEAN có 2 đối tác đối thoại ngành là Pakistan và Na Uy. ASEAN cũng trao quy chế Quan sát viên đặc biệt cho Papua New Guinea và đã mời rất nhiều khách mời, chủ yếu là quan chức cấp cao của các nước, các tổ chức quốc tế… tham gia các hoạt động của ASEAN, nhất là các hoạt động cấp cao để tạo dựng uy tín và quảng bá hình ảnh của ASEAN ra bên ngoài.

Bên cạnh đó, ASEAN cũng xây dựng thành công quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi với nhiều tổ chức ở khu vực và trên thế giới. Trong đó, đáng kể nhất là đối tác toàn diện ASEAN-LHQ được thành lập và nâng cấp năm 1977, Hội đồng hợp tác các nước vùng Vịnh (GCC), Khối thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur), Nhóm Rio và sau này là Cộng đồng các quốc gia Nam Mỹ và Carribe và Liên minh Thái Bình Dương[1].

2. Nguyên nhân khiến Việt Nam là một trong những yếu tố giúp tăng uy tín của ASEAN

Tăng trưởng kinh tế

Trong suốt 3 thập kỷ, Việt Nam là một trong những quốc gia châu Á có chỉ số tăng trưởng liên tục và gần như không bị gián đoạn. Đặc biệt, theo báo cáo của Viện Toàn cầu McKinsey (MGI), công bố ngày 12/9/2018 tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ở Hà Nội, Việt Nam nằm trong 18 nền kinh tế được đánh giá là "đạt hiệu quả vượt trội hơn" trong vòng 50 năm qua. 

Việt Nam thuộc nhóm có kinh tế tăng trưởng GDP đầu người hơn 5% trong 20 năm qua, cùng Azerbaijan, Belarus, Campuchia, Ethiopia, Ấn Độ, Kazakhstan, Lào, Myanmar, Turkmenistan và Uzbekistan. Tốc độ tăng trưởng GDP đầu người trung bình 5% mỗi năm là mức đủ để một quốc gia trong nhóm thu nhập thấp và trung bình thấp có thể "nhảy" một bậc thang về thu nhập, theo thang xếp loại của Ngân hàng Thế giới (WB). Sự tăng trưởng vững chắc này giúp Việt Nam gia tăng đáng kể vai trò cá nhân trong và ngoài khu vực Đông Nam Á trên thế giới[2].

Ở thời điểm năm 1975, kinh tế Việt Nam đối diện với vô vàn thách thức. Đến giữa thập niên 1980, GDP bình quân đầu người ở quanh ngưỡng khoảng từ 200 đến 300USD. Trong hơn 30 năm kể từ khi đổi mới, Việt Nam đã mở cửa và nhanh chóng là một phần của nhiều tổ chức lớn. Năm 1995, Việt Nam gia nhập khu vực tự do thương mại ASEAN.

Năm 2000, Việt Nam ký kết thỏa thuận tự do thương mại với Mỹ. Năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Từ đó đến nay, Việt Nam ký kết thêm nhiều thỏa thuận với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật và Hàn Quốc. Năm nay, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được ký kết, dù không có Mỹ.

Tất cả các thỏa thuận trên đã giúp cho các mức thuế cả nhập khẩu và xuất khẩu giảm đi. Không chỉ mở cửa nền kinh tế, chính phủ Việt Nam đồng thời đưa ra nhiều chính sách cải tổ. Năm 1986, chính phủ chính thức thông qua Luật đầu tư nước ngoài (FDI), cho phép doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam.

Thế giới cũng thừa nhận nỗ lực của Việt Nam. Trong bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), nếu như vào năm 2006, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 77 thì đến năm 2017, Việt Nam đã được nâng hạng lên vị trí thứ 55. Trong xếp hạng về tính thuận lợi của môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đứng ở vị trí thứ 68 trong năm 2017 trong khi đó vào năm 2007, Việt Nam ở vị tri 104[3].

Vị trí trung tâm

Việt Nam có vị trí chiến lược quan trong đối với các nước Đông Nam Á, Việt Nam là nước có chủ quyền vùng biển lớn với trữ lượng hải sản lớn tại biển Đông. Thêm vào đó, Việt Nam nằm trên vành đai với trữ lượng khí đốt, khoáng sản và dầu mỏ lớn. Trong những thời điểm ASEAN gặp khó khăn, Việt Nam đã trở thành một trong những yếu tố giúp ASEAN lấy lại sức mạnh, tạo đà vượt qua khủng hoảng. Trước bối cảnh sức mạnh của Hiệp hội giảm sút khi khu vực lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng năm 1997, Việt Nam đã chủ trì thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội năm 1998, thông qua Chương trình hành động Hà Nội, mở đường cho ASEAN vượt qua khủng hoảng tài chính, tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh hợp tác, khôi phục vị thế ASEAN và định hướng cho sự phát triển nhằm hiện thực hóa viễn cảnh của Tầm nhìn 2020.

Việt Nam cũng đã phát huy vai trò là cầu nối tích cực tăng cường quan hệ giữa ASEAN với các đối tác, kể cả việc góp phần tháo gỡ một số vướng mắc, giúp nâng tầm quan hệ giữa các bên, được cả ASEAN và các nước đối thoại đánh giá cao. Việt Nam cũng có những đóng góp tích cực nhằm giữ vững vai trò chủ đạo của ASEAN tại các tiến trình hợp tác khu vực do ASEAN khởi xướng, như ASEAN+1, ASEAN+3, EAS, ARF, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM). Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Uỷ ban thường trực ASEAN (năm 2000-2001), Chủ tịch luân phiên ASEAN (năm 2010) và tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 17 cũng trong năm 2010[4].

3. Vai trò của Việt Nam trong việc tăng uy tín của ASEAN

Thứ nhất, Việt Nam có vai trò quan trọng đưa hai nhóm nước ASEAN xích lại gần nhau nhờ vị trí địa lý - chính trị và quá trình lịch sử của Việt Nam tạo ra. Việt Nam đã đóng góp lớn trong việc xây dựng Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thúc đẩy sớm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). 

Việt Nam luôn hành động theo phương châm “chủ động, tích cực, có trách nhiệm” trong ASEAN; lựa chọn đi đầu, dẫn dắt; đóng vai trò nòng cốt, tích cực và có trách nhiệm trong từng vấn đề theo chiến lược và lộ trình phát triển của đất nước. Việt Nam thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, hình thành và chia sẻ chuẩn mực ứng xử trong khu vực, tăng cường hiệu quả của các diễn đàn do ASEAN đóng vai trò chủ đạo và dẫn dắt, như EAS, ARF, ADMM, ADMM+. 

Việt Nam là quốc gia Đông Dương đầu tiên gia nhập ASEAN, và động thái này đã giúp chấm dứt sự đối đầu giữa khối Đông Dương và ASEAN. Việt Nam cũng đã giúp đối tác ASEAN với các nước ngoài khu vực - bao gồm Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và EU. Việt Nam cũng dẫn đầu các nỗ lực trong ASEAN để đảm bảo an ninh khu vực. Ngay sau khi trở thành thành viên, Việt Nam đã ký Hiệp ước về Khu vực không có vũ khí hạt nhân Đông Nam Á và là một trong những thành viên sáng lập của Diễn đàn khu vực ASEAN.

Thứ hai, Việt Nam giúp ASEAN duy trì đoàn kết, hợp tác và củng cố vị thế quốc tế trong lúc Hiệp hội ở những thời điểm khó khăn do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997 và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008; thông qua Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) để thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020. 

Việt Nam nỗ lực góp phần tăng cường đoàn kết thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN. Tham gia định hình cấu trúc cho khu vực Ấn Độ Dương - châu Á - Thái Bình Dương đa tiến trình, đa lĩnh vực và đa tầng nấc. Việt Nam cần triển khai đồng bộ hội nhập quốc tế trong mọi lĩnh vực, với trọng tâm là hợp tác kinh tế, tranh thủ nguồn lực quốc tế phục vụ đổi mới toàn diện, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với công nghệ số, đổi mới sáng tạo. Tăng cường nắm bắt làn sóng mới về thương mại, đầu tư toàn cầu, cơ hội từ Cộng đồng ASEAN, xu thế liên kết mới ở khu vực Ấn Độ Dương - châu Á - Thái Bình Dương cũng như sự phát triển của các thị trường tiềm năng. 

Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy, cách tiếp cận, cải cách tổ chức bộ máy phù hợp với sự chuyển biến của tình hình và yêu cầu mới của thời đại. Thấm nhuần tư duy “khởi xướng, định hình”, phát huy các thế mạnh của Việt Nam trong vận động, thuyết phục, xây dựng đoàn kết trong khu vực. Tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu hội nhập sâu rộng và cách mạng công nghiệp 4.0. 

Thứ ba, về tầm cỡ kinh tế, so với các quốc gia khác trong khu vực,Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, luôn xác định có trách nhiệm trong việc hoàn thành các cam kết của mình. Việt Nam đã vượt lên nhóm các nước Campuchia, Lào, Myanmar trong ASEAN 4 tạo nên một mức mới trong ASEAN. Việt Nam đã trải qua giai đoạn khó khăn và đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với không ít thành công đã đạt được. Việt Nam cũng là quốc gia thoát nghèo nhanh nhất nên dễ thuyết phục nước khác.

Trong đó xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào ASEAN tăng gần 12,4 lần, từ 1,6 tỷ USD năm 1996 lên 19,9 tỷ USD. Đáng lưu ý, đến đầu tháng 7 năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASEAN là 28,1 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu là 12,2 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu là 15,9 tỷ USD.  Ngoài ra, bước sang năm 2018 tỷ lệ xóa bỏ thuế quan của Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) là 98%. Như vậy, trong số 10 FTA mà Việt Nam đang thực hiện, FTA với nội khối ASEAN (AFTA) có tỷ lệ xoá bỏ thuế quan cao nhất là 98% với lộ trình thực hiện là 19 năm (cá biệt, một số ít mặt hàng có lộ trình là 25 năm)[5]

4. Định hướng của Việt Nam trong việc tăng uy tín của ASEAN

Đến năm 2035, Việt Nam có khát vọng trở thành nước có thu nhập trên trung bình, với GDP bình quân đầu người khoảng 22.000 USD, tiến tới trở thành một xã hội thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ.

Để hiện thực khát vọng này, Báo cáo “Việt Nam – Lộ trình hướng tới năm 2035” khuyến nghị, Việt Nam cần dựa trên ba trụ cột và thực hiện sáu chuyển đổi lớn. Trụ cột thứ nhất là Thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững về môi trường; Trụ cột thứ hai là Công bằng và hòa nhập xã hội (hay còn gọi là bình đẳng cho mọi người). Và Trụ cột thứ ba là Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của Nhà nước.

Việt Nam cũng cần thực hiện sáu chuyển đổi lớn, gồm: Hiện đại hóa nền kinh tế đồng thời với nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân; Phát triển năng lực đổi mới sáng tạo, lấy khu vực kinh tế tư nhân làm trung tâm; Nâng cao hiệu quả của quá trình đô thị hóa, tăng cường kết nối giữa các thành phố và vùng phụ cận; Phát triển bền vững về môi trường và tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu; Bảo đảm công bẳng và hòa nhập xã hội cho các nhóm yếu thế cùng với sự phát triển của xã hội trung lưu; Xây dựng một Nhà nước pháp quyền hiện đại với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập và xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao.

Là một bộ phận hữu cơ, không tách rời của ASEAN, Việt Nam sẽ tiếp tục đồng hành và phát triển cùng ASEAN cùng hướng tới một Cộng đồng ASEAN liên kết chặt chẽ, tự cường, giàu bản sắc, hướng tới nhân dân, có quan hệ đối ngoại rộng mở, có vai trò và vị thế quốc tế quan trọng, là động lực thúc đẩy hợp tác và là trung tâm kết nối các mối liên kết khu vực ở nhiều tầng nấc khác nhau trong một kiến trúc khu vực đang định hình, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực.

Trở thành Chủ tịch ASEAN là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Việt Nam. Đó cũng là một cơ hội lớn là dịp để Việt Nam thể hiện năng lực và chuyên môn và cải thiện hình ảnh của mình trong mắt các quốc gia thành viên ASEAN khác.

Năm 2020 là một năm đặc biệt đối với Việt Nam và cả các quốc gia thành viên ASEAN khác. Đến năm 2020, Việt Nam sẽ kỷ niệm 25 năm gia nhập ASEAN.

Đối với ASEAN, năm 2020 là thời gian để đánh giá giữa kỳ sau năm năm thực hiện Cộng đồng ASEAN và thực hiện kế hoạch 10 năm của hiệp hội (2015-2025) và sau đó đưa ra các kế hoạch trong tương lai.

Việt Nam đã chuẩn bị cho sự kiện đó liên quan đến cơ sở hạ tầng, tài chính và nhân lực. Quan trọng hơn, chúng ta phải duy trì mục tiêu, đặt lợi ích của cộng đồng là ưu tiên hàng đầu của chúng ta trong khi cố gắng cân bằng lợi ích của hiệp hội với lợi ích của mỗi quốc gia thành viên.

5. Kết luận

Từ những vai trò của Việt Nam trong việc tăng uy tín của ASEAN, ta có thể nhận ra:

Thứ nhất, Việt Nam đã thể hiện là quốc gia tích cực, có trách nhiệm, đóng góp các sáng kiến, giải pháp thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN, nâng cao vị thế của ASEAN trong khu vực và thế giới. 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam trong hơn 30 năm cải cách và 20 năm kể từ khi gia nhập ASEAN, từ một nước nghèo bị tàn phá bởi chiến tranh, Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển kinh tế xã hội quan trọng dưới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đất nước này đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô với mức tăng trưởng GDP trung bình 6-7% mỗi năm và đạt mức thu nhập trung bình trong năm 2008 với thu nhập bình quân đầu người hơn 1000 đô la Mỹ. Năm 2014, GDP bình quân đầu người gần 2.000 đô la Mỹ, với tỷ lệ nghèo giảm xuống dưới 8%, từ mức 58% năm 1993. Hệ thống chính trị và đoàn kết dân tộc đã được củng cố, với tình hình chính trị xã hội ổn định và mở rộng quan hệ đối ngoại. Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế đã được nâng cao.

Mặc dù không phải là người sáng lập tổ chức, Việt Nam ngày càng tích cực hơn trong các hoạt động của ASEAN. Việt Nam đã để lại dấu ấn của mình trên các tài liệu chính của nhóm, bao gồm Tầm nhìn 2020 và các Kế hoạch hành động liên quan, Hiến chương ASEAN, Kế hoạch hành động của cộng đồng ASEAN cũng như các kế hoạch hành động khác. Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò của ASEAN như một lực lượng vì hòa bình và an ninh trong khu vực, bao gồm duy trì hòa bình, an ninh và an toàn hàng hải ở Biển Đông.

Thứ hai, Việt Nam luôn giữ vững phương châm tích cực chủ động.

Vị trí địa lý của Việt Nam, với 3.260km bờ biển, cũng khiến Việt Nam trở thành trung tâm trong phát triển thương mại và các hoạt động hàng hải ở một châu Á đang lên. Động lực tương tự này được nhân đôi trong ASEAN, trong đó Việt Nam, trước đây là một quốc gia cấp 2 của ASEAN với Myanmar, Campuchia và Lào, hiện đang tiến tới vị thế cấp 1. Theo Viện Brookings, Việt Nam sẽ là cầu nối giữa các quốc gia cấp 1 và cấp 2 hàng đầu ở mức thấp của khoảng cách phát triển. Một lần nữa, Việt Nam đã sẵn sàng để đặt mình vào trung tâm.

Việt Nam rất giỏi trong việc chờ đợi thời gian của mình, luôn từ chối thực hiện một hành động táo bạo lớn, hoặc tạo ra các liên minh hoặc thỏa thuận song phương lớn khiến Việt Nam không dễ bị chèn ép và ít có cơ hội trở thành kẻ thù. Thành công của Việt Nam cho đến nay, việc tiếp tục đứng vững về tăng trưởng kinh tế trong ASEAN, và vị trí tiền tuyến của Việt Nam trong mối đe dọa an ninh lớn nhất khu vực đã khiến nó trở thành một nhà lãnh đạo thực tế trong các vấn đề đối ngoại của ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam là một phần quan trọng trong phát triển kinh tế của ASEAN, mang lại thêm quan hệ đối tác thương mại, mở ra nhiều cơ hội tiếp cận vận tải ven biển và cung cấp cho các nước láng giềng một phần đáng kể của “chiếc bánh”phát triển Việt Nam đang tìm kiếm.

Nhà báo Quốc tế Lê Hoàng Anh Tuấn

NCS. Quan hệ Quốc tế, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao



[1] Lòng tin trong quan hệ quốc tế và định hướng chiến lược xây dựng lòng tin trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam, Đặng Đình Quý, Nguyễn Vũ Tùng, Tài liệu đọc Chính sách đối ngoại, GV phụ trách T.S Lê Hải Bình, tr199,200,201.

[2] https://news.zing.vn/vn-trong-top-18-nen-kinh-te-moi-noi-vuot-troi-nhat-the-gioi-post876392.html

[3] http://cafef.vn/wef-kinh-te-viet-nam-da-lam-nen-dieu-than-ky-trong-30-nam-bang-cach-nao-20180912134117148.chn

[4] Một số suy nghĩ về định hình chính sách đối ngoại mới, Phạm Bình Minh, Tài liệu đọc chính sách đối ngoại Việt Nam, GV phụ trách: TS. Lê Hải Bình, tr.92.

[5] https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-dong-gop-dang-ke-vao-su-lon-manh-va-thanh-cong-cua-asean/519508.vnp

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều