Một số vấn đề lý luận cơ bản về chức năng giám sát của MTTQ Việt Nam

(Mặt trận) - Giám sát là một chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm thực hiện vai trò, trách nhiệm của Mặt trận trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Trong những năm qua, nhất là từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (năm 2006), Đảng và Nhà nước ngày càng đề cao vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quan tâm xây dựng và hoàn thiện các chính sách và pháp luật về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ này.

Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện hoặc do các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện việc theo dõi, xem xét, đánh giá và kiến nghị đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã quy định khá đầy đủ và cụ thể tại Điều 25 về mục đích giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đó là: “đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh”.

Như vậy, theo quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mục đích giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trước hết là nhằm thực hiện vai trò đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; sau đó là góp phần thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiến nghị khắc phục những sai sót, yếu kém và sửa đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp; phát hiện những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy dân chủ, động viên nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Nhìn chung, quy định về mục đích giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 về cơ bản là thống nhất như quy định tại Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội được ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XI (sau đây gọi là Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị). Tuy nhiên, ở đây có điểm đáng lưu ý là: khi đặt việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân lên trước hết, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thể hiện được một bước tiến quan trọng trong nhận thức về mục đích giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam so với giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị được ban hành trước đó.

Tính chất giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Điều 25 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định: “giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội”.

Tính xã hội của giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xuất phát từ thuộc tính xã hội trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đó là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hình thành và phát triển từ nhu cầu của xã hội, từ trong lòng xã hội và luôn có mục tiêu bao trùm là phụng sự xã hội, cùng với các thiết chế khác đáp ứng các nhu cầu về kinh tế - xã hội của đất nước, của nhân dân.

Tính xã hội của giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thể hiện qua các nội dung chính, đó là:

- Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát của Nhân dân, của xã hội đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự giám sát; huy động được sự tham gia, hưởng ứng của đông đảo Nhân dân và các lực lượng xã hội vào hoạt động giám sát.

- Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xuất phát từ yêu cầu của Nhân dân, của xã hội.

- Đối tượng giám sát chính của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan nhà nước, tổ chức, đại biểu dân cử, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức là những đối tượng có trách nhiệm phục vụ xã hội, phục vụ Nhân dân; đồng thời, đây cũng là những đối tượng mà hoạt động có tác động rất lớn đến xã hội và vì vậy xã hội cần phải giám sát và kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm những đối tượng này không đi ngược lại lợi ích của xã hội.

- Nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân1, nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

- Tác động của giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dựa trên sức mạnh là ý chí, là tiếng nói, là áp lực của xã hội, của cộng đồng đối với đối tượng giám sát. Điều này khác với sự tác động của hoạt động giám sát của các cơ quan, nhà nước, tổ chức chính trị là dựa trên sức mạnh của quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị…

Tính xã hội của giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một trong những cơ sở quan trọng để phân biệt giữa chức năng, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với chức năng, hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra của các cơ quan, tổ chức khác.

Như vậy, tính xã hội là tính chất bao trùm, cơ bản của giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bên cạnh tính xã hội, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn có các tính chất cơ bản, quan trọng khác như: tính Nhân dân, tính chính trị, tính dân chủ… Những tính chất này hòa quyện và tạo thành bản sắc rất riêng có trong hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phân biệt giữa giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát của các cơ quan, tổ chức khác của Đảng, Nhà nước.

Chủ thể giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã có những quy định khá rõ về chủ thể giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, có 3 nhóm chủ thể là:

1- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp: Chủ trì giám sát đối với các đối tượng và nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 26 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

2- Các tổ chức chính trị - xã hội2: Chủ trì giám sát đối với các đối tượng và nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 26 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc quy định của pháp luật.

3- Các tổ chức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tham gia phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thực hiện giám sát đối với các đối tượng và nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 26 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, quyền và trách nhiệm của tổ chức mình.

Đối tượng, nội dung và phạm vi giám sát

Đối tượng giám sát

Tại Điều 5 Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị quy định về đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến cơ sở; Cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước. Đến Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, tại Điều 25, tại khoản 1 Điều 26 xác định đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức; không quy định đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm tổ chức đảng và đảng viên, bởi Luật này không điều chỉnh quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam; việc giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với tổ chức Đảng và Đảng viên được hiểu là mặc nhiên được thực hiện theo quy định tại các văn bản của Đảng. Như vậy, khái quát lại, đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo quy định tại Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 là rất rộng, bao gồm mọi cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức kinh tế, xã hội khác, cũng như mọi đảng viên, cán bộ, đại biểu dân cử, công chức, viên chức.

Nội dung và phạm vi giám sát

Theo quy định tại Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị, nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là: “Việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) của cơ quan, tổ chức và cá nhân”. Nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Quy chế xác định là rất rộng, nếu không nói là bao trùm mọi hoạt động của tất cả các chủ thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội.

Đến Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định là: “Việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” (Khoản 2 Điều 26). So với Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã xác định cụ thể hơn và khoanh lại phạm vi các nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm phù hợp hơn với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sự điều chỉnh này căn cứ vào điều kiện cụ thể của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần hạn chế tình trạng chồng chéo trong hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.

Như vậy, theo các văn bản của Đảng và pháp luật hiện hành, nội dung và phạm vi giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cụ thể và gắn với từng loại đối tượng như sau:

Đối với tổ chức Đảng: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thuộc lĩnh vực phụ trách.

Đối với Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan do Quốc hội thành lập, Hội đồng nhân dân các cấp: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Kiểm toán nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân các cấp.

Đối với Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính nhà nước các cấp.

Đối với Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, cơ quan điều tra và các cơ quan tiến hành tố tụng khác: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động xét xử, thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, cơ quan điều tra và các cơ quan tiến hành tố tụng khác.

Đối với đơn vị sự nghiệp: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp.

Đối với cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, việc giữ mối liên hệ với Nhân dân và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú.

Các hình thức giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân

Đây là hình thức giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần đầu tiên được quy định tại Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

Hiện nay chưa có quy định cụ thể nào cũng như công trình nghiên cứu khoa học nào về hình thức giám sát thông qua việc nghiên cứu, xem xét văn bản (hay còn có thể gọi là giám sát văn bản) của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trên thực tế, từ khi Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 có hiệu lực đến nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp nhìn chung là chưa triển khai thực hiện được nhiều hình thức giám sát này. Tuy nhiên, qua một số vụ việc mà Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện trong thời gian qua, như: Giám sát đối với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, giám sát đối với các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp khoa học - công nghệ... cho thấy hình thức giám sát này nếu được sử dụng sẽ có hiệu quả tốt.

Cũng do chưa có quy định cụ thể và định nghĩa rõ về hình thức giám sát thông qua nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân nên về mặt nhận thức, trên thực tế cũng có những cách hiểu khác nhau về hình thức giám sát này. Thậm chí, có quan điểm đồng nhất hình thức giám sát này với hình thức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp nghiên cứu, góp ý đối với dự thảo các văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Mặc dù có yếu tố giám sát trong hoạt động nghiên cứu, góp ý đối với các dự thảo văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng đây là yếu tố giám sát hoạt động ban hành văn bản của cơ quan, tổ chức và yếu tố này không bao trùm, thay thế cho tính chất và mục đích chính của hoạt động đó vẫn là việc tham gia, góp ý, phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản nhằm góp phần xây dựng chính sách, pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam3.

Hình thức giám sát thông qua nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân khác biệt với hoạt động nghiên cứu, góp ý, phản biện đối với các dự thảo văn bản. Khách thể mà hoạt động giám sát văn bản tác động chính là các văn bản đã có hiệu lực, khác với khách thể của hoạt động góp ý xây dựng pháp luật là các dự thảo văn bản đang được xây dựng. Vì vậy, cách thức tác động của hoạt động giám sát văn bản cũng rất khác biệt với cách thức tác động của hoạt động góp ý xây dựng dự thảo. Qua nghiên cứu, xem xét văn bản, nếu phát hiện những nội dung còn thiếu, những nội dung chưa phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp, pháp luật và có ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thậm chí là đình chỉ hoặc bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản đó. Một trong những yếu tố của văn bản được coi là đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là phải có “liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân”4. Những văn bản khác sẽ do các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền khác giám sát, kiểm tra và xử lý. Thủ tục, trình tự giám sát thông qua nghiên cứu, xem xét văn bản của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định cụ thể trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Tổ chức đoàn giám sát

Hình thức tổ chức đoàn giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng là một trong những hình thức giám sát mới của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đây là hình thức giám sát có thể nói là quan trọng nhất, phổ biến nhất trong hoạt động giám sát của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Việc được quy định và tổ chức thực hiện hình thức giám sát này có ý nghĩa quan trọng, khẳng định một bước chuyển biến căn bản trong hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi Mặt trận có thể chủ động thành lập các đoàn giám sát của Mặt trận để giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân, thay vì chỉ cử đại diện tham gia các đoàn giám sát của các cơ quan nhà nước theo phương thức truyền thống như trước khi Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Bộ Chính trị và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 ra đời.

Trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã triển khai nhiều đoàn giám sát, nhất là tổ chức các đoàn giám sát liên ngành theo các chương trình giám sát được ký kết giữa Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp với các tổ chức thành viên của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác của Đảng, Nhà nước và đã đạt được những kết quả nhất định, được Nhân dân và các cơ quan, tổ chức đồng tình ủng hộ.

Thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân được thành lập ở cấp xã, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng

Đây là hình thức giám sát được triển khai nhiều năm qua tại các địa phương và là hoạt động giám sát có thể nói là có hiệu quả nhất trong các hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ khi có Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999 đến nay.

Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn là hình thức giám sát của Nhân dân thông qua Ban Thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở cấp xã. Tuy tên gọi gắn với cụm từ “thanh tra” nhưng Ban Thanh tra nhân dân là thiết chế hoàn toàn độc lập, có chức năng, nhiệm vụ cũng như cách thức tổ chức hoạt động khác biệt so với Thanh tra nhà nước. Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Giám sát đầu tư của cộng đồng là hoạt động tự nguyện của dân cư sinh sống trên địa bàn xã, phường, thị trấn nhằm theo dõi, kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan, đơn vị liên quan trong quá trình đầu tư, phát hiện, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm về đầu tư (trừ các chương trình, dự án bí mật quốc gia theo quy định của pháp luật). Mục đích của hoạt động giám sát đầu tư của cộng đồng là để bảo đảm cho việc thực hiện các chương trình, dự án, công trình xây dựng trên địa bàn xã, phường, thị trấn theo đúng quy định của pháp luật, đúng mục tiêu, đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, làm ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích chung của cộng đồng. Với mục đích đó, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng thực hiện theo dõi, đánh giá việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư ở cơ sở, từ đó có thể phát hiện, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các việc làm vi phạm pháp luật để kịp thời ngăn chặn và xử lý nhằm bảo vệ lợi ích của cộng đồng.

Hiệu quả về tổ chức và hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng gắn liền với vai trò tham gia tổ chức, hướng dẫn và chỉ đạo hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn cũng như sự tham gia trực tiếp của các cán bộ, thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội là thành viên của Mặt trận đối với các tổ chức này.

Tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Trong những năm qua, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương đã ký kết các quy chế phối hợp công tác với Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, các cơ quan của Đảng (như Ban Nội chính, Ban Dân vận Trung ương…), Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp… trong việc triển khai các nhiệm vụ công tác, trong đó có nhiệm vụ phối hợp triển khai các hoạt động giám sát. Đối với hình thức giám sát này, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa là thành viên tham gia giám sát, đồng thời cũng là người trực tiếp giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Trong quá trình tham gia các đoàn giám sát, nếu phát hiện những sai phạm, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền kiến nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.

Ngoài ra, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở các cấp còn thực hiện việc giám sát thông qua cử đại diện của Mặt trận tham gia các Hội đồng hoặc Ban chỉ đạo các chương trình, đề án, dự án... của các cơ quan nhà nước ở các cấp. Đây là hoạt động trực tiếp giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước trên một số công việc cụ thể thông qua đó, Mặt trận có thể góp ý trực tiếp trong quá trình hoạt động của Hội đồng, Ban chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các chương trình, đề án, dự án này, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các đối tượng nhâ dân có liên quan.

Về hiệu quả giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hiệu quả hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau. Đó có thể là những kết quả cụ thể, như: qua giám sát, đã kiến nghị và thực tế đã thu hồi được bao nhiêu tiền, tài sản bị vi phạm cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân; kiến nghị nhằm hạn chế hoặc xử lý được bao nhiêu vi phạm của cá nhân, cơ quan, tổ chức; kiến nghị để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hay đình chỉ được bao nhiêu văn bản vi phạm hoặc không còn phù hợp làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Đó cũng có thể là những kết quả không đo đếm được nhưng rất quan trọng, như: góp phần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, động viên, phát huy tinh thần làm chủ, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của Nhân dân; góp phần tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao vai trò, uy tín của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…

Tùy từng hoạt động giám sát cụ thể, cần tính toán giữa chi phí về nguồn lực bỏ ra (nhân lực, tài chính, phương tiện vật chất…) với kết quả đem lại trên tinh thần tiết kiệm, phù hợp với điều kiện thực tế và hiệu quả mang lại cao nhất; hạn chế tối đa những hoạt động giám sát mang tính hình thức, không rõ hiệu quả hoặc không mang lại hiệu quả.

Giám sát là một chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm thực hiện vai trò, trách nhiệm của Mặt trận trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở xác định đúng đắn những yêu cầu cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra, cần thực hiện đồng bộ và nghiêm túc các giải pháp về hoàn thiện thể chế, về tổ chức thực hiện cũng như về bảo đảm các điều kiện thực hiện với những nhóm giải pháp như: tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tăng cường nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, nâng cao nhận thức trong toàn xã hội, trọng tâm là trong hệ thống chính trị về công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; thực hiện đồng bộ các hình thức giám sát; tiếp tục đổi mới về tổ chức bộ máy và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động và tăng cường sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức thành viên, các cơ quan, tổ chức khác trong quá trình giám sát.

Nguyễn Quang Minh

TS, Trưởng ban Dân chủ - Pháp luật, UBTW MTTQ Việt Nam

Chú thích:

1. Ngoài ra, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn giám sát những nội dung liên quan đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhưng xét đến cùng, như đã trình bày, các quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng hình thành và phát triển từ nhu cầu của xã hội, từ trong lòng xã hội và luôn có mục đích bao trùm là phụng sự xã hội.

2. Gồm: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

3. Hoạt động tham gia xây dựng văn bản, góp ý xây dựng pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định tại Điều 21 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015; hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định tại Chương VI - Hoạt động phản biện xã hội của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

5.Khoản 1 Điều 27 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

Tài liệu tham khảo

1. Quốc hội (1992), Hiến pháp năm 1992.

2. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013.

3. Quốc hội (2008), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

4. Quốc hội (2015), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

5. Quốc hội (2015), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều