Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc - Cội nguồn thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự vận dụng trong tình hình hiện nay

(Mặt trận) - Đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng và Nhà nước coi việc đoàn kết các dân tộc là vấn đề xuyên suốt và mang tính chiến lược. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng mà rất cụ thể, gắn liền với tiến trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của đất nước. Năm 1941, để trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, Người đã về nước, chọn Cao Bằng và vùng Việt Bắc làm căn cứ cách mạng. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở đây đã hết lòng đùm bọc, che chở cho Bác Hồ và các cơ quan lãnh đạo của cách mạng.

Năm 1941, Mặt trận Việt Minh được thành lập. Để tập hợp mọi tầng lớp nhân dân “có lòng yêu nước, thương nòi”, Mặt trận Việt Minh công bố Tuyên ngôn, nêu rõ: “Việt Minh coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn là thành thực muốn đánh đuổi Nhật - Pháp để dựng lại một nước Việt Nam tự do và độc lập”.

Với “chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân xung quanh ngọn cờ “đánh đuổi Nhật, Pháp”. Đến năm 1942, các tổ chức cứu quốc, thành viên của Mặt trận Việt Minh đã được thành lập và phát triển ở hầu hết các địa phương trong cả nước, như: Công nhân Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc, Tự vệ Cứu quốc. Năm 1943, Hội Văn hóa Cứu quốc, rồi tiếp đó tháng 6/1944, Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng của giới trí thức yêu nước đã được thành lập.

Năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra kết luận: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Đảng ta đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất với nội dung cốt yếu là xây dựng một sự liên minh giữa các tầng lớp và giai cấp khác nhau của xã hội, hướng tới một chương trình hành động thống nhất và thiết thực để hình thành một đội ngũ những người có cùng mục tiêu đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Theo Bác, cách mạng Việt Nam là sự nghiệp của toàn dân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Để đạt được mục tiêu cuối cùng, Đảng phải tuyên truyền, giáo dục, vận động, giúp đỡ toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất, không để sót một lực lượng, một cá nhân yêu nước nào đứng ngoài đoàn thể nhân dân trong Mặt trận. Trong tư tưởng của Bác, nguyên tắc quan trọng nhất, bất di bất dịch khi thực hiện đại đoàn kết là nguyên tắc bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của toàn dân Việt Nam.

Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển truyền thống của dân tộc Việt Nam, đồng thời là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của dân tộc, của cách mạng Việt Nam, nâng truyền thống đoàn kết của cộng đồng dân tộc Việt Nam lên tầm cao mới: có cơ sở, lý luận, nguyên tắc, phương pháp và trở thành đường lối chiến lược của cách mạng nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trong hòa bình, độc lập, thống nhất.

Mặt trận Việt Minh là biểu tượng sáng ngời và tập trung tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, khối đoàn kết lớn mạnh chưa từng có, khắc phục những hạn chế của các giai đoạn trước. Mặt trận Việt Minh chủ trương “liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương “Việt Nam Độc lập Đồng minh sẽ lấy ngọn cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm huy hiệu”. Ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh sau này trở thành quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập, cũng là biểu tượng của tinh thần cách mạng và khối đại đoàn kết các giai cấp, tầng lớp trong dân tộc. Chương trình của Việt Minh, cũng như toàn bộ hoạt động của Mặt trận thể hiện, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta không quan điểm phải dùng lực lượng, sức mạnh của giai cấp này để đánh đổ một giai cấp khác, mà là tập hợp lực lượng tất cả các giai cấp, các tầng lớp tạo thành sức mạnh của cả dân tộc để đánh đổ ách thống trị của bọn đế quốc và tay sai. Ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, ngay từ khi thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc. Nắm vững học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo, mạnh bạo và sát với thực tế của đất nước, không máy móc, giáo điều. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941), Người khẳng định: “Trong lúc này, nếu như không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thông qua Mặt trận Việt Minh, không chỉ đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp mà điểm nổi bật còn đoàn kết được các dân tộc đa và thiểu số, đoàn kết được tất cả các tôn giáo. Trong một quốc gia nhiều dân tộc, đoàn kết được dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số thành lực lượng chung trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng có ý nghĩa rất quan trọng. Từ rất sớm các dân tộc thiểu số đã đi theo ngọn cờ hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Mặt trận Việt Minh và luôn luôn là lực lượng thủy chung với cách mạng. Đoàn kết keo sơn các dân tộc, các tôn giáo trong Mặt trận Việt Minh là một thành công và là nét đặc sắc trong tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không có khối đoàn kết ấy thì không thế nào có thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cũng như thắng lợi ở các giai đoạn tiếp theo.

Sau khi dân tộc Việt Nam giành được độc lập không lâu, thực dân Pháp gây chiến ở Nam bộ, rồi từng bước đánh chiếm, xâm lược nước ta lần thứ hai. Ngày 19/4/1946, Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam được tổ chức tại Plei Ku, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới Đại hội, trong thư Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xơ Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau...  Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ lẫn nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”.

Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa thể hiện lòng mong mỏi, vừa là mệnh lệnh để các dân tộc anh em cùng đoàn kết phấn đấu cho mục tiêu độc lập, tự do và hạnh phúc.

Đoàn kết các dân tộc - Nhiệm vụ mang tính chiến lược của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Đại hội XII của Đảng đã xác định: Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt, không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết dân tộc.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tuyên truyền về tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; về đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội; các phong trào, các cuộc vận động do Mặt trận và các tổ chức thành viên của Mặt trận phát động. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc các cấp đã và đang đi vào cuộc sống, tạo sự đồng thuận trong đồng bào các dân tộc thiểu số để cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đất nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập sâu rộng quốc tế.

Đảng Cộng sản Việt Nam làm sáng rõ hơn quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, phải do quần chúng, vì quần chúng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ phong trào đấu tranh để tự giải phóng và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn kết và hợp tác. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận rõ sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, lãnh đạo quần chúng, chuyển những nhu cầu, đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết dân tộc; tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người.

Đại đoàn kết dân tộc chỉ có thể thực hiện được khi giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới. Để thực hiện nhiệm vụ trên, Đại hội XII của Đảng đã đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ cụ thể nhằm xây dựng, phát triển các giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, cũng như đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ; nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; có cơ chế, chính sách tạo điều kiện, đồng thời động viên cựu chiến binh tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ; quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc…

Đoàn kết dân tộc không chỉ có chính sách phù hợp đối với các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội, mà cần có những chính sách để phát huy sự bình đẳng giữa các dân tộc, dân cư ở các vùng, miền trên cả nước. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, duyên hải miền Trung…”.

Ở nước ta, các tôn giáo chung sống đan xen, nhưng tồn tại độc lập và hòa bình với nhau, không phụ thuộc vào nhau. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tác động vào tình hình tôn giáo để gây mâu thuẫn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Để chống lại âm mưu trên, đồng thời để các tôn giáo đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XII của Đảng chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật; chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật”.

Đối với kiều bào Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, Đảng ta chỉ rõ: “Nhà nước hoàn thiện cơ chế, chính sách để hỗ trợ giúp đỡ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng; tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; có cơ chế, chính sách thu hút đồng bào hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng và bảo vệ đất nước”.

Như vậy, Đảng ta đã thể hiện sự thấm nhuần, vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc có tính đến tất cả các lực lượng, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đó là chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, nếu được triển khai thực hiện có hiệu quả, sẽ là động lực, là nguồn lực và là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của dân tộc ta trong thời gian tới.

Đồng Ngọc Châu

PGS.TS, Trường Đại học Nguyễn Huệ

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000, t.7.

2. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều