Mở rộng cơ chế tự chủ đại học ở Việt Nam

(Mặt trận) - Tự chủ đại học (TCĐH - University autonomy) là khái niệm phản ánh mối tương quan giữa nhà nước và cơ sở đào tạo đại học theo hướng giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của cơ quan công quyền vào quản trị đại học về tổ chức, tài chính, học thuật và nhân sự. Thời gian vừa qua ở Việt Nam, TCĐH đã và đang được thể chế hóa từng phần nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển nhân lực trong tình hình mới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện thí điểm TCĐH đã và đang nảy sinh những bất cập cần sớm tháo gỡ.
 

Sinh viên Đại học tại Hà Nội (Nguồn: Báo Vĩnh Phúc)

1.    Khái niệm

Ở các nước châu Âu, TCĐH được nhìn nhận từ hai khía cạnh cơ bản: (1) Thoát ra khỏi sự kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước, của thị trường lao động, nhà cung cấp dịch vụ và ảnh hưởng chính trị; (2) Quyền tự do đưa ra quyết định về cách thức tổ chức hoạt động cũng như mục tiêu sứ mạng của trường.

Nghiên cứu về các mô hình quản trị đại học trên thế giới cho thấy mức độ tự chủ - thể hiện ở mức độ kiểm soát của nhà nước đối với cơ sở GDĐH - ở các quốc gia là khác nhau, do chịu ảnh hưởng của thể chế chính trị, kinh tế, xã hội không giống nhau. Thậm chí ở trong cùng một quốc gia, mức độ tự chủ của các cơ sở GDĐH cũng có thể khác nhau tùy thuộc vào chất lượng của các cơ sở GDĐH.

Ở một số nước phát triển, vẫn tồn tại song song hai phân khúc: nhóm các trường đại học được trao quyền tự chủ tuyệt đối và nhóm các trường vẫn phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước cũng như cơ quan chủ quản.

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thể chế tự chủ cao hơn là yếu tố then chốt tạo ra sự thành công của các cuộc cải cách đại học - cuộc cải cách nhằm đa dạng hoá và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả. Quyền được tự chủ cao hơn còn là cơ sở để xây dựng ý thức trách nhiệm của các cơ sở đại học.

Ở Việt Nam, khái niệm “tự chủ đại học” mới xuất hiện khoảng gần hai thập kỷ gần đây. TCĐH ở nước ta được hiểu là các trường đại học được tự chủ theo quy định của pháp luật, gắn với tự chịu trách nhiệm và được thể chế hóa từng phần trong từng lĩnh vực hoạt động của các cơ sở GDĐH. 

Như vậy, tự chủ đại học được nhìn nhận là sự thiết lập cơ chế độc lập tương đối của các ngoại tác nhân để trường đại học có thể chủ động trong công tác quản trị và tổ chức nội bộ, tạo lập và phân bổ các nguồn lực tài chính, tuyển dụng và bố trí nhân sự, xây dựng các tiêu chuẩn đo lường chất lượng cho việc tổ chức giảng dạy, học tập và nghiên cứu

2.    Thực trạng

Thời gian gần đây, vấn đề tự chủ trong giáo dục đại học Việt Nam bước đầu đã có những chuyển biến tích cực. Từ chỗ toàn thể hệ thống GDĐH như một trường đại học lớn, chịu sự quản lý nhà nước về mọi mặt thông qua cơ quan chủ quản là Bộ GD&ĐT, các trường đại học đã và đang dần được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thể hiện qua các văn bản pháp quy của Nhà nước.

Điều lệ trường đại học, ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ “Trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, khoa học, công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức và nhân sự” [1].

Luật Giáo dục ban hành tháng 7 năm 2005 đã đề cập đến việc thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.

Nghị quyết 14 của Chính phủ (14/2005/NQ-CP ban hành ngày 2 tháng 11 năm 2005) về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 chủ trương đổi mới cơ chế quản lý, chuyển các cơ sở GDĐH công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu, tổ chức, nhân sự và tài chính; xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập.

Thông tư liên tịch của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ (07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV tháng 4 năm 2009) hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo đã nêu rõ quyền tự chủ của đơn vị trong việc xác định nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện; trong việc tổ chức bộ máy và biên chế trong đơn vị; trong việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức.

Nghị quyết về đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 (số 05-NQ/BCSĐ) của Ban Cán sự Đảng Bộ GD&ĐT đánh giá thực trạng quản lý GDĐH và chỉ đạo tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và kiểm soát bên trong của trường đại học phù hợp với các quy định của Nhà nước.

Chỉ thị 296 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục trong giai đoạn 2010-2012 (296/CT-TTg, ngày 27 tháng 2 năm 2010) cũng nêu rõ việc đổi mới quản lý GDĐH bao gồm quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý của các cơ sở đào tạo là khâu đột phá để tạo ra sự đổi mới toàn diện GDĐH, để từ đó các trường đại học, cao đẳng thực hiện quyền tự chủ và nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm trước xã hội và Nhà nước theo quy định của Luật Giáo dục.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã chủ trương: “Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; đổi mới căn bản công tác quản lý GD&ĐT, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GD & ĐT” [4]

Gần đây nhất, Luật Giáo dục Đại học (sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014, 2015, 2018) đặc biệt quan tâm đến vấn đề tự chủ của cơ sở GDĐH. Quyền TCĐH được coi là đã được thể hiện ở nhiều điều khoản của Luật về hội đồng trường, hiệu trưởng, tuyển sinh, chương trình đào tạo, văn bằng, tài chính…

Khoản 11, Điều 4, Luật Giáo dục đại học quy định:  “Quyền tự chủ là quyền của cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở giáo dục đại học” [3].

Sau 5 năm triển khai thí điểm TCĐH trên cả nước, đến nay đã có 23 cơ sở GDĐH công lập thực hiện tự chủ. Các cơ sở GDĐH được lựa chọn thí điểm đã có những thành tựu nhất định trong việc triển khai cơ cấu quản trị hiện đại, thu hút người học, tạo nguồn thu cũng như được xã hội công nhận về chất lượng nhân lực... 

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện tự chủ, đã và đang nảy sinh không ít bất cập như chính sách, pháp luật về tự chủ chưa đồng bộ và cụ thể; cơ chế bộ chủ quản không còn phù hợp; một bộ phận cơ sở GDĐH được giao thí điểm tự chủ vẫn còn chưa nhận thức đầy đủ về TCĐH, chưa chủ động chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện tự chủ; năng lực quản trị của nhiều trường chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, đặc biệt là cơ chế công khai, minh bạch cũng như trách nhiệm giải trình với các bên liên quan còn mang tính hình thức…

Thực tế cho thấy, việc giao quyền tự chủ đối với cơ sở GDĐH thời gian vừa qua mới chỉ thực hiện thí điểm, chưa trở thành nhu cầu nội tại của hầu hết các trường; điều kiện tự chủ mới chỉ tiếp cận từ góc độ tài chính mà chưa tính đến công tác chuyên môn, học thuật và cơ cấu tổ chức, quản trị.

Mặc dù có nhiều thay đổi so với trước đây nhưng về cơ bản, các trường đại học công lập ở nước ta vẫn được quản lý theo cơ chế của thời kỳ bao cấp, chịu sự xét duyệt từ nhân sự, tuyển sinh, chương trình đào tạo, tài chính, công nhận, bổ nhiệm, thăng hạng chức danh nghề nghiệp…

Như vậy, TCĐH ở Việt Nam được quy định trên ba phương diện chủ yếu:

(1). Tự chủ về chuyên môn và học thuật:

Khoản 3, Điều 32, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) quy định về quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học quy định:Quyền tự chủ trong học thuật, trong hoạt động chuyên môn bao gồm ban hành, tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, chính sách chất lượng, mở ngành, tuyển sinh, đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ, hợp tác trong nước và quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật” [3].

Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có tự chủ đại học theo nghĩa đầy đủ của vấn đề này. Trên cơ sở thẩm định của Hội đồng Quốc gia thẩm định ngành về chương trình giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT quy định chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập. Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, đại học xác định và thiết lập chương trình đào tạo của mình. 

Có thể khẳng định rằng, nếu không được tự chủ, đặc biệt là tự chủ về chương trình và không có tự do học thuật thì đại học chưa phải là đại học. Nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là do sự “hành chính hoá”, “chính trị hoá” khoa học và giáo dục.

          (2). Tự chủ về tổ chức và nhân sự:

Khoản 4, Điều 32 quy định: “Quyền tự chủ trong tổ chức và nhân sự bao gồm ban hành và tổ chức thực hiện quy định nội bộ về cơ cấu tổ chức, cơ cấu lao động, danh mục, tiêu chuẩn, chế độ của từng vị trí việc làm; tuyển dụng, sử dụng và cho thôi việc đối với giảng viên, viên chức và người lao động khác, quyết định nhân sự quản trị, quản lý trong cơ sở giáo dục đại học phù hợp với quy định của pháp luật” [3].

Với chủ trương này, trường đại học được quyết định về các vấn đề liên quan đến tuyển dụng, lương bổng, sử dụng nguồn nhân lực, bổ nhiệm, miễn nhiệm các vị trí trong khu vực học thuật và khu vực hành chính...

Tại Việt Nam, cấp trường điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường, dưới sự chỉ đạo của đảng ủy, ban giám hiệu cùng với các đơn vị chức năng tham mưu giúp việc. Cấp khoa quản lý các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của ngành trực thuộc. Cấp bộ môn trực tiếp triển khai về học thuật trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học. Các trung tâm có nhiệm vụ triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ…

Trong điều kiện hiện nay, sự ràng buộc về lợi ích và trách nhiệm giữa các chủ thể trong và ngoài liên quan đến định hướng phát triển của nhà trường, đặc biệt là cơ chế phân bổ lợi ích… Đòi hỏi phải có hội đồng trường đại diện cho cả Nhà nước và các bên có lợi ích liên quan cũng như thay mặt cho xã hội định hướng và giám sát hoạt động của bộ máy quản lý - điều hành nhà trường, đảm bảo sự phát triển hài hòa lợi ích giữa các chủ thể và xã hội.

 Luật Giáo dục Đại học đã dành một thời lượng khá lớn để quy định về điều kiện, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của hội đồng trường. Theo đó, hội đồng trường có vai rất lớn, giống mô hình của hội đồng quản trị trong doanh nghiệp cổ phần tư nhân.

Mục a, Khoản 2, Điều 32 quy định về điều kiện thực hiện quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học: “Đã thành lập hội đồng trường, hội đồng đại học; đã được công nhận đạt chuẩn chất lượng cơ sở giáo dục đại học bởi tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục hợp pháp” [3]. Như vậy, việc thành lập hội đồng trường là điều kiện tiên quyết cho sự xác lập và được công nhận về cơ chế TCĐH ở nước ta, thể hiện xu thế mở rộng dân chủ trong quá trình điều hành cơ sở GDĐH, phù hợp với xu thế quốc tế.

Thực tế cho thấy, các cơ sở GDĐH đã bước đầu thành lập hội đồng trường và đi vào hoạt động, tuy nhiên hiệu quả chưa rõ nét. Ở một trường công lập với mức độ xã hội hóa thấp và sự tham gia của các chủ thể trong xã hội vào hoạt động và sự phát triển của trường ít, thì hội đồng trường sẽ ít có tác dụng và mang tính hình thức.

(3). Tự chủ về tài chính và tài sản:

Quyền tự chủ trong tài chính và tài sản bao gồm ban hành và tổ chức thực hiện quy định nội bộ về nguồn thu, quản lý và sử dụng nguồn tài chính, tài sản; thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển; chính sách học phí, học bổng cho sinh viên và chính sách khác phù hợp với quy định của pháp luật.

Liên quan tới nội dung tự chủ về tài chính, Mục a, Khoản 3, Điều 20 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học được quy định như sau: “Là người đại diện theo pháp luật và là chủ tài khoản của cơ sở giáo dục đại học” [3].

Liên quan đến nội dung tự chủ về tài sản, Khoản 1, Điều 67 quy định: “Cơ sở giáo dục đại học quản lý, sử dụng tài sản được hình thành từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản nhà nước; tự chủ, tự chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng tài sản hình thành từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước” [3]. Quy định này cho thấy rõ “tự chủ” khác với “không tự chủ” về cả cách thức và đối tượng quản lý, sử dụng: tự chủ đại học chỉ quy định đối với tài sản hình thành từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước. 

Khoảng 3, Điều 64 quy định về nguồn tài chính của cơ sở GDĐH có mục “Ngân sách nhà nước cấp (nếu có)”. Như vậy, các cơ quan chức năng đã bỏ ngỏ khả năng cấp ngân sách chi thường xuyên cho các cơ sở GDĐH. Đây là chủ trương có tính chất trung gian nhằm từng bước xác lập cơ chế tự chủ về tài chính cho các trường đại học.

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ đã nói đến việc giao quyền tự chủ tài chính cho các “đơn vị sự nghiệp dịch vụ công”, trong đó có các trường đại học. Bước đầu có sự chủ động về tự chủ tài chính, nhưng mới chỉ được tự chủ ở mức độ rất hạn chế, phần thu vẫn còn nhiều trói buộc, nhất là quy định về trần học phí.

Theo quan điểm của tập thể tác giả, TCĐH trước hết phải tự chủ về tài chính. Tự chủ đại học mà chưa tự chủ về tài chính thì là tự chủ hình thức. Giáo dục là quốc sách hàng đầu, việc Nhà nước chi cho giáo dục là cần thiết, tuy nhiên không nên hiểu là Nhà nước bắt buộc phải chi thường xuyên cho giáo dục đại học. Nhà nước vẫn chi cho những lĩnh vực liên quan trực tiếp và hỗ trợ GDĐH như hoạch định chính sách; điều tra, khảo sát nhu cầu ngành nghề; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ từ nhà trường tới doanh nghiệp; đặt hàng chất lượng đào tạo… 

Điều 12 Luật Giáo dục đại học quy định chính sách của Nhà nước về phát triển giáo dục đại học: “Phân bổ ngân sách và nguồn lực cho giáo dục đại học theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả thông qua chi đầu tư, chi nghiên cứu phát triển, đặt hàng nghiên cứu và đào tạo, học bổng, tín dụng sinh viên và hình thức khác” [3]. Như vậy theo Luật, Nhà nước không phân bổ ngân sách và nguồn lực vào “chi thường xuyên” cho các trường đại học nữa mà chỉ tập trung chi cho nghiên cứu phát triển, đặt hàng đào tạo, học bổng, tín dụng sinh viên...

Có ý kiến cho rằng, nếu mở bung cơ chế tự chủ, đặc biệt là “ép” các trường phải tự chủ về tài chính ngay thì sẽ dẫn đến việc tăng học phí ồ ạt, ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người học. Tuy nhiên trong xu thế cạnh tranh, việc tăng học phí thiếu cơ sở khoa học sẽ là một trong những tác nhân giảm sức cạnh tranh của các trường đại học. Các trường đại học sẽ phải cạnh tranh về mức học phí trong mối tương quan với chất lượng đào tạo của mình để thu hút sinh viên. Việc tự chủ về tài chính cũng là cơ sở quan trọng để phân loại các trường đại học về thương hiệu. Mặt khác, cơ chế cào bằng học phí như hiện nay cũng không phải là xu thế chung trên thế giới.

Cơ chế TCĐH mà Việt Nam đang tiến hành không có nghĩa là thả nổi hay buông lỏng quản lý mà phải gắn chặt với cơ chế giải trình. Để đảm bảo chất lượng đào tạo và công bằng xã hội trường đại học phải chịu trách nhiệm trước người học và xã hội, với Nhà nước và tự chịu trách nhiệm với chính mình.

Thông qua cơ chế công khai, người học có điều kiện giám sát việc thực hiện các cam kết của nhà trường về mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, chuẩn đầu ra cùng các nguồn lực đảm bảo chất lượng đào tạo. Một trường đại học đưa sai thông tin công khai hay không thực hiện đúng cam kết đã công khai sẽ không thu hút được sinh viên vào trường và giảm niềm tin của người tuyển dụng lao động cũng như các nhà đầu tư.

Trách nhiệm với Nhà nước là trách nhiệm đảm bảo mọi hoạt động của nhà trường theo sứ mạng đã công bố và trong khuôn khổ của pháp luật, trách nhiệm sử dụng kinh phí đầu tư của Nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch, trách nhiệm báo cáo và chịu sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.

Trách nhiệm đối với chính nhà trường là trách nhiệm phát triển uy tín của nhà trường một cách bền vững vì quyền lợi của tập thể đội ngũ cán bộ, giảng viên và sinh viên, học viên. Trong cơ chế tự chủ, uy tín và sự phát triển của trường phụ thuộc chủ yếu vào năng lực lãnh đạo, quản lý cũng như chuyên môn của chính đội ngũ cán bộ.

Khoản 6, Điều 32 Luật Giáo dục đại học quy định về trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học đối với chủ sở hữu, người học, xã hội, cơ quan quản lý có thẩm quyền và các bên liên quan được quy định như sau:

a) Giải trình về việc thực hiện tiêu chuẩn, chính sách chất lượng, về việc quy định, thực hiện quy định của cơ sở giáo dục đại học; chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không thực hiện quy định, cam kết bảo đảm chất lượng hoạt động;

b) Công khai báo cáo hằng năm về các chỉ số kết quả hoạt động trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với chủ sở hữu và cơ quan quản lý có thẩm quyền;

c) Giải trình về mức lương, thưởng và quyền lợi khác của chức danh lãnh đạo, quản lý của cơ sở giáo dục đại học tại hội nghị cán bộ, viên chức, người lao động; thực hiện kiểm toán đối với báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán hằng năm, kiểm toán đầu tư và mua sắm; giải trình về hoạt động của cơ sở giáo dục đại học trước chủ sở hữu, cơ quan quản lý có thẩm quyền;

d) Thực hiện công khai trung thực báo cáo tài chính hằng năm và nội dung khác trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

đ) Thực hiện nội dung, hình thức giải trình khác theo quy định của pháp luật” [3].

TCĐH là bước đi cần thiết và quan trọng để giáo dục đại học Việt Nam phát triển và hội nhập quốc tế. Luật GDĐH đã, đang và sẽ tạo hành lang pháp lý tốt hơn để các trường phát triển. Tuy nhiên, hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến công tác này còn thiếu đồng bộ.

Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Viên chức… còn chồng chéo và thậm chí là “rào cản” với các trường đại học trong quá trình xây dựng cơ chế tự chủ. Một số nội dung trường được phép tự chủ nhưng trên thực tế chưa thực hiện được, như việc liên kết sử dụng tài sản của nhà trường liên kết, liên danh để phát triển đào tạo khoa học công nghệ. Các nguồn từ ngân sách nhà nước như khoa học vẫn phải quyết toán theo Luật Ngân sách Nhà nước.

Trên thực tế, việc tự chủ của các trường đại học ở nước ta đang có sự phân hóa, với những trường tốp trên có tiềm lực tài chính, đội ngũ lãnh đạo, giảng viên tốt, uy tín cao thì thực hiện tự chủ dường như dễ dàng hơn so với các trường tốp dưới. Tuy nhiên, TCĐH ở nước ta thời gian qua có chăng là tự chủ một phần. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ cơ quan quản lý nhà nước, từ chính các trường đại học, một phần từ người học và xã hội.

Khoản 4, Điều 12 Luật Giáo dục Đại học quy định về chính sách của Nhà nước về phát triển giáo dục đại học: Thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học, khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục đại học tư thục; ưu tiên cơ sở giáo dục đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận; có chính sách ưu đãi đối với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vào hoạt động giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tại cơ sở giáo dục đại học; có chính sách miễn, giảm thuế đối với tài sản hiến tặng, hỗ trợ cho giáo dục đại học, cấp học bổng và tham gia chương trình tín dụng sinh viên” [3].

Mặc dù có quy định về chính sách ưu đãi, nhưng chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về đối tượng, mức ưu đãi… để các trường có thể chủ động trong công tác huy động nguồn lực xã hội. Do đó, việc thu hút nguồn lực xã hội cho nhà trường chưa sớm được khơi thông.

Theo tinh thần của Luật GDĐH, không phải các trường được giao quyền tự chủ thì Nhà nước sẽ “bỏ rơi”, mà sự hỗ trợ của Nhà nước sẽ được nhìn nhận theo các khía cạnh khác. Muốn nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước, các trường công lập và ngoài công lập sẽ phải vượt qua 3 thách thức:

Thứ nhất, phải đổi mới năng lực quản trị của nhà trường để tận dụng hiệu quả nhất các nguồn lực.

Thứ hai, giải trình và chịu trách nhiệm trước xã hội, trước các cơ quan quản lý và trước người học.

Thứ ba, phải tự xây dựng thương hiệu. Có thương hiệu thì Nhà nước mới đặt hàng đào tạo, nghiên cứu khoa học…

Như vậy, việc thực hiện cơ chế tự chủ tại các trường đại học công lập ở Việt Nam thời gian qua đã được triển khai thí điểm và có những kết quả ban đầu. Tuy nhiên, để phát huy cơ chế này một cách có hiệu quả cần tiếp tục triển khai những giải pháp thiết thực hơn nữa:

Về phía các cơ quan chức năng:

Cần sớm ban hành hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục Đại học, đi cùng với đó là rà soát, điều chỉnh để đồng bộ hóa các quy định liên quan trong các bộ luật khác. Chuyển từ cơ chế quản lý trực tiếp sang cơ chế điều tiết, hỗ trợ bằng công cụ vĩ mô và giám sát chất lượng.

Xây dựng lộ trình tự chủ của cả hệ thống GDĐH trong mối tương quan tương đối với hệ thống GDĐH trên thế giới.

Không mở bung một cách đại trà, mà có lộ trình tuần tự, chắc chắn để cơ chế tự chủ lan tỏa đến toàn hệ thống GDĐH. Những trường chưa tự chủ hoặc chỉ tự chủ một phần sẽ áp dụng cơ chế quản lý và giám sát khác với các trường đã đủ điều kiện và được công nhận tự chủ. Cùng với chế tài ràng buộc, cần ban hành cơ chế ưu đãi cụ thể (ưu đãi có tính điều kiện) để khuyến khích các cơ sở GDĐH nỗ lực xây dựng cơ chế tự chủ.

Nghiên cứu tính chất đặc thù ngành nghề của từng nhóm trường đại học để áp dụng cơ chế cũng như lộ trình TCĐH phù hợp.

Khoản 11, Điều 4 khi quy định về tự chủ cũng chưa đề cập cụ thể đến công tác tuyển sinh của các trường đại học. Tuyển sinh là một khâu mấu chốt đầu tiên của quá trình đào tạo. Số lượng, cơ cấu tuyển sinh phải dựa trên cơ sở nhu cầu nhân lực của xã hội, phụ thuộc vào năng lực về cơ sở vật chất, quản trị, đội ngũ giảng viên, tài chính của từng trường. Những thông số này có thể liên tục biến động, do vậy, việc định hướng, xây dựng cơ chế để các trường đại học chủ động trong công tác tuyển sinh là điều cần thiết.    

Quy chế kiểm tra đánh giá và công nhận tốt nghiệp do Bộ GD&ĐT ban hành cũng như các quy chế trước đó có nhiều điểm dành cho trường đại học chủ động đề xuất cho phù hợp với đặc điểm của mình, tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm giới hạn quyền tự chủ của các trường (như quy định về ngừng học, thôi học, điều kiện tốt nghiệp…). Những quy định này không nên giống nhau ở các trường khác nhau. Do đó, cần giao quyền chủ động xây dựng những quy chế này cho các trường đại học.

Về phía trường đại học:

Việc thực hiện TCĐH ở nước ta có tính đặc thù, nhưng về cơ bản vẫn phải theo quy luật phát triển GDĐH thế giới.

Tự chủ về tổ chức và nhân sự:

Trong khi chờ hướng dẫn từ phía các cơ quan chức năng, các trường đại học cần tích cực, chủ động lên kế hoạch và xây dựng lộ trình tự chủ; thiết lập khung cơ cấu tổ chức, sắp xếp bộ máy nhân sự và nâng cao năng lực quản trị.

Trên cơ sở dân chủ, công khai, minh bạch, các trường phải xây dựng một bộ quy tắc ứng xử giống bộ luật của trường (bao gồm quy chế làm việc, tuyển dụng, sử dụng cán bộ, lương, thưởng…) và phải được hội đồng trường thông qua. Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện giám sát nội bộ và thực hiện giải trình trách nhiệm với xã hội.

Tự chủ về tài chính:

Quản lý tài chính đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện TCĐH. Đây là vấn đề then chốt nhằm đảm bảo quá trình tự chủ và tự chịu trách nhiệm được thực hiện đầy đủ, khách quan, công bằng và minh bạch. Quyền tự chủ của trường đại học chỉ có thể được thực hiện tốt nếu trước hết phải bảo đảm được quyền tự chủ về tài chính.

Để tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính, các trường cần hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ, chú trọng giải pháp chi theo hiệu quả công việc; phân cấp và quyền cho các đơn vị trong trường để mở rộng nguồn thu và khoán chi; đào tạo nâng cao năng lực quản lý tài chính cho các đơn vị; quy định trách nhiệm giải trình về tài chính giữa các cấp; tổ chức hoạt động kiểm soát nội bộ và công khai tài chính.

Nhằm tăng cường năng lực tài chính cũng như mở rộng tính chất xã hội hóa, các cơ sở GDĐH cần sớm lên kế hoạch xây dựng cơ chế đầu tư phát triển để thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

Tự chủ về học thuật và đào tạo:

Các trường căn cứ vào điều kiện của mình có để xây dựng chương trình đào tạo theo khung chương trình quy định.

Tiến hành đổi mới chương trình đào tạo theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, nâng cao kỹ năng thực hành cho cả người dạy và người học; đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng lấy người học làm trung tâm; tăng cường liên kết với doanh nghiệ; liên thông đào tạo giữa các ngành, các trường trong và ngoài nước.

Mở các ngành học mới theo nhu cầu của thực tiễn và theo hướng đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo, tiếp cận chương trình đào tạo, giáo trình giảng dạy của các trường đại học ở các nước phát triển.

Tự chủ về kiểm tra, đánh giá

Một trong những điều kiện cơ bản để có thể giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm là mỗi trường có một hệ thống kiểm tra, đánh giá với giảng viên, học viên và sinh viên, đó là cơ sở quan trọng để điều chỉnh phương pháp giảng dạy, học tập, nghiên cứu, ứng xử nhằm xây dựng vị thế của từng trường.

Nhằm góp phần hoàn thiện tất cả các khâu trong quy trình đào tạo, các trường đại học cần xây dựng cơ chế đánh giá của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên cũng như hoạt động hỗ trợ của các bộ phận quản lý nội bộ. Mặt khác, cũng cần xây dựng cơ chế đánh giá của giảng viên đối với các bộ phận quản lý nội bộ.

Cần công khai, minh bạch, đầy đủ và kịp thời về năng lực đào tạo, cơ cấu tổ chức, nhân sự cùng các điều kiện đảm bảo chất lượng của nhà trường để người học, nhà tuyển dụng, nhà đầu tư biết và giám sát.

KẾT LUẬN:

GDĐH Việt Nam đang ở trong tình thế cần có sự đột phá về chất lượng và hiệu quả. So với các nước phát triển, có kinh nghiệm hàng trăm năm để thực hiện TCĐH thì chúng ta mới đi được đoạn đường đầu tiên. Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ cũng là thời cơ thuận lợi giúp GDĐH Việt Nam tiếp thu những kinh nghiệm và thành tựu của các nước nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển. 

Như vậy, TCĐH là một quá trình phát triển, cần có điều kiện, thời gian để chuyển đổi từ nhận thức, ý thức và văn hóa chất lượng trong hệ thống GDĐH và toàn xã hội. Cùng với việc luật hóa, tư duy của các trường đại học vẫn là yếu tố có tính quyết định. Việc tạo thêm động lực cho các cơ sở GDĐH cùng sự thay đổi mạnh mẽ hơn nữa từ phía cơ quan chức năng là rất cần thiết để TCĐH ở nước ta thành công.

TS. Vũ Tiến Dũng - ThS. Cao Văn Đan - ThS.  Lưu Xuân Công

Trường Đại học Xây dựng

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Điều lệ Trường Đại học (Số 70/2014/QĐ-TTg, ban hành ngày 10 tháng 12 năm 2014).

2. Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

3. Luật Giáo dục Đại học (sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014, 2015, 2018), Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2019.

4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều