Vai trò của MTTQ Việt Nam trong xây dựng Đảng, Nhà nước thời kỳ đổi mới

(Mặt trận) - Nhân dân là cội nguồn của mọi sức mạnh. Thực tiễn quá trình đấu tranh cách mạng đã minh chứng, đoàn kết, tập hợp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là động lực to lớn tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước thời kỳ đổi mới cũng chính là phương thức để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hội nghị Sơ kết 5 năm thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị (Khóa XI) về giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò to lớn trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Trong tiến trình cách mạng dân tộc, dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, để xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc, Đảng ta đã tổ chức ra Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân để tập hợp, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo, chính kiến, hợp thành lực lượng to lớn đấu tranh vì sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc. Điều 3, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xác định: “trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; Thực hiện giám sát và phản biện xã hội; Tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước; Thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân”1.

Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là chức năng cơ bản của Mặt trận Tổ quốc, đồng thời cũng là cơ sở xuất phát của sự ra đời, tồn tại và phát triển của Mặt trận. Nói đến Mặt trận Tổ quốc, nhất thiết phải nói đến vấn đề tập hợp lực lượng, đoàn kết các lực lượng để nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, yêu cầu, nội dung, hình thức, biện pháp cụ thể để thực hiện tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc lại có sự khác nhau do yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng trong từng giai đoạn quy định. Trong điều kiện hiện nay, cần xác định rõ hơn và cụ thể hơn điểm tương đồng là cơ sở để tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc. Đó là mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, không phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai. Mặt trận Tổ quốc không chỉ tập hợp đoàn viên, hội viên của các tổ chức thành viên, mà còn rộng hơn là nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và tập hợp ý kiến, kiến nghị đa chiều của các tầng lớp nhân dân, của cả những người chưa tham gia các tổ chức quần chúng để phản ánh với Đảng và Nhà nước. Chú trọng tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân về mục tiêu chung, về truyền thống nhân nghĩa, khoan dung; đấu tranh chống lại sự chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch.

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một chức năng cơ bản của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong tất cả các giai đoạn. Nói đến dân chủ không thể không nói đến sự thống nhất trong tính đa dạng. Nhờ có sự thống nhất ý chí và lợi ích căn bản, mà các lực lượng, các cá thể khác nhau trong xã hội hợp thành xã hội và tạo ra quyền lực công, đây là điều kiện quan trọng để tự do cá nhân được giữ gìn, tôn trọng và phát triển. Mặt trận Tổ quốc xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế rõ ràng, cụ thể để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, mạnh dạn thể hiện tiếng nói đa chiều, phản ánh đa lợi ích của các tầng lớp nhân dân; thực hiện: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”2; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, loại trừ quan liêu, tham nhũng. Chức năng phát huy dân chủ của Mặt trận Tổ quốc cũng chính là cơ sở của việc thực hiện chức năng đại diện của Mặt trận. Có thực hiện tốt chức năng phát huy dân chủ, Mặt trận mới thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ khác trong quá trình tổ chức hoạt động thực tiễn của mình.

Sự ra đời, tồn tại và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc xuất phát từ chính nhu cầu tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cách mạng và vì lợi ích, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân; bản thân điều đó đã mang tính chất là một tổ chức đại diện cho nhân dân, đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Hơn nữa, theo quy định của pháp luật hiện hành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ. Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân để Mặt trận mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; chân thành lắng nghe và tôn trọng những ý kiến khác nhau, thậm chí cả những ý kiến trái chiều; phát huy dân chủ, vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thực hiện việc chủ trì phối hợp với các Ban lãnh đạo tổ chức thành viên tổ chức Hội nghị nêu ý kiến, kiến nghị của nhân dân đối với các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước. Qua khảo sát thì 47/47 tổ chức thành viên đều cho ý kiến rằng, việc tổ chức hội nghị lấy ý kiến của nhân dân là cần thiết, tạo dư luận xã hội tốt trong việc thực hiện dân chủ.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp góp ý kiến cho Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các cấp chính quyền trong quá trình xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần ngày càng hoàn thiện hơn về xây dựng hệ thống pháp luật, hiệu quả, thiết thực. Trong phối hợp thống nhất xây dựng các chương trình giám sát xã hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là các đoàn thể chính trị - xã hội phối hợp thực hiện nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội theo nội dung: “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị. Qua thực hiện giám sát theo chuyên đề, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là các đoàn thể chính trị - xã hội đã xây dựng và thực hiện một số chương trình giám sát mang lại hiệu quả cao liên quan trực tiếp đến đông đảo quyền lợi của nhân dân.

Một số bài học kinh nghiệm về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Mặt trận thực hiện chức năng đoàn kết bằng tổ chức và bằng phong trào của quần chúng nhân dân

Trong quá trình đổi mới, Mặt trận coi trọng mở rộng các tổ chức thành viên và cá nhân thành viên. Coi đây là phương thức quan trọng để thực hiện chức năng đoàn kết bằng tổ chức, thông qua tổ chức. Hoạt động của Mặt trận ngày càng tăng tính thiết thực, giảm tính hành chính, bám sát nhân dân, bám sát địa bàn cơ sở. Tiếp tục xây dựng và hỗ trợ các tổ chức, hội đoàn yêu nước có điều kiện hoạt động và phát triển.

Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng đoàn kết thông qua việc tổ chức thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức thực hiện các phong trào mang tính toàn dân. Các thành viên của Mặt trận tổ chức thực hiện các phong trào mang tính ngành, giới. Giữa Mặt trận và các tổ chức thành viên cần phân định rõ ràng trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện các phong trào, các cuộc vận động; Mặt trận không nên tổ chức phong trào, cuộc vận động dàn trải, ôm đồm; Mặt trận và các tổ chức thành viên không nên làm lẫn công việc của nhau.

Mặt trận xây dựng tiêu chuẩn đối với cá nhân tiêu biểu bảo đảm tính tiêu biểu, tính thiết thực và tính đại diện. Mặt trận lựa chọn, xây dựng cá nhân tiêu biểu, gương mẫu trong tập hợp, vận động, đoàn kết dân tộc, tôn giáo và các giai tầng xã hội. Người tiêu biểu phải được chính cộng đồng nơi họ sinh sống, làm việc suy tôn, tiến cử và Ban Công tác Mặt trận ở cơ sở hiệp thương, giới thiệu tham gia vào công tác của Mặt trận. Người tiêu biểu phải thực sự là người yêu nước, trung thành với Tổ quốc, tán thành mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; chấp hành pháp luật, có tinh thần đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và tự nguyện tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Người tiêu biểu phải biết chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân nói chung, của giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo mà mình là thành viên.

Mặt trận Tổ quốc các cấp cần lựa chọn, đề xuất với cấp ủy về đội ngũ người tiêu biểu, phát huy vai trò của họ trên các lĩnh vực của đời sống, góp phần tích cực vào sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc.

Xây dựng đoàn kết luôn gắn liền với dân chủ, kỷ cương và công bằng xã hội

Thực tiễn cho thấy, để huy động được sức mạnh và trí tuệ của toàn dân đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết phải quán triệt và thực hiện chủ trương đoàn kết luôn gắn liền với dân chủ, kỷ cương và công bằng xã hội. Xã hội càng phát triển thì đòi hỏi trình độ dân chủ trong xã hội càng cao. Mặt khác, dân chủ là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đo lường sự phát triển của xã hội, bởi lẽ bảo đảm và phát huy dân chủ là bảo đảm tôn trọng và thực hiện quyền con người, quyền và lợi ích của người dân trên tư cách người chủ của xã hội. Dân chủ phải đi liền với bảo đảm trật tự, kỷ cương, tuân thủ pháp luật. Một nền dân chủ lành mạnh phải là nền dân chủ tuân thủ pháp luật, không tách rời khỏi pháp luật. Pháp luật chính là giới hạn, là hành lang vận động của dân chủ. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang tập trung xây dựng là mô hình nhà nước quản lý và điều hành theo pháp luật, trong đó pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương được tăng cường.

Dân chủ trong điều kiện mới thể hiện trong các thể chế, thiết chế của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị cũng như trong các quan hệ xã hội, trong đó phải đề cao tính công khai, minh bạch, tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến nhân dân. Người dân có quyền làm chủ toàn diện trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”. Muốn vậy, trước hết phải xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng, đồng thời hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước và cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước.

Tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, đặc biệt là thực hiện tốt chỉ tiêu giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách để ổn định và từng bước nâng cao đời sống nhân dân, thu nhập của người dân không ngừng được cải thiện. Đến nay, việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn có những hạn chế. Sự phát triển các lĩnh vực, các vùng, miền thiếu đồng bộ, sự chênh lệch trong hưởng thụ các giá trị của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội... giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng, đô thị còn lớn; giảm nghèo chưa bền vững; khoảng cách giàu - nghèo, sự chênh lệch trong thu nhập ngày càng gia tăng... Đây chính là những vấn đề cần chia sẻ, cần khắc phục, không để mâu thuẫn phát sinh. Giải quyết tốt vấn đề dân sinh cần được xem là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong thời kỳ mới. Vấn đề cốt lõi là cần tập trung xây dựng và thực hiện các chính sách phù hợp với từng giai tầng xã hội, nhất là các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, lấy kinh tế tư nhân làm động lực phát triển. Quá trình thực hiện, cần quan tâm hơn nữa đến các đối tượng yếu thế trong xã hội, quan tâm đến vùng, miền còn nhiều khó khăn, hạn chế. Nhà nước phải có sự hỗ trợ và có chính sách cụ thể để tạo sự phát triển cân đối, bền vững, bảo đảm ổn định đời sống, ổn định chính trị - xã hội.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của tổ chức thành viên và các tầng lớp nhân dân

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã đề ra những chủ trương, chính sách đúng đắn nhằm tập hợp rộng rãi lực lượng của quần chúng nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại đoàn kết dân tộc là khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp xã hội, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng miền của đất nước; giữa Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp; giữa đảng viên của Đảng và quần chúng, giữa người Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại đoàn kết dân tộc là nhằm phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, đưa cả cộng đồng dân tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách, phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Mặt trận Tổ quốc đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động ngoại giao nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phù hợp với cách thức tổ chức có “tính mở” của mình, Mặt trận có thể tập hợp nhân dân bằng các hình thức đa dạng, phong phú, như tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy truyền thống yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc và tham gia trực tiếp các cuộc vận động, phong trào kinh tế, xã hội, văn hóa; phát huy tính tích cực của cá nhân tiêu biểu trong các giai tầng xã hội, dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền, vận động người Việt Nam định cư ở nước ngoài đoàn kết cộng đồng, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, tôn trọng pháp luật nước sở tại; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc;...

Để đẩy mạnh các hoạt động tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, Mặt trận phối hợp với các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua các hoạt động như tổ chức hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước mang tính toàn dân, toàn diện, toàn quốc; tổ chức hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước của địa phương; các phong trào thi đua yêu nước liên quan đến quyền và trách nhiệm của tổ chức mình.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam muốn vững mạnh cần có hệ thống tổ chức thống nhất và thông suốt trong toàn quốc, vừa tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy ban Mặt trận ở 4 cấp và Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư, vừa xây dựng và kiện toàn bộ máy chuyên trách ở Trung ương và địa phương.

Phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp

Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Quan hệ phối hợp giữa Mặt trận với Nhà nước được thực hiện theo Quy chế phối hợp công tác do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan nhà nước hữu quan ở từng cấp ban hành.

 Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận hoạt động có hiệu quả. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận và Nhà nước đều là bộ phận của hệ thống chính trị. Tùy chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của Mặt trận và Nhà nước có khác nhau nhưng đều là công cụ để nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và Nhà nước là một tất yếu và xuất phát từ nhu cầu tự thân của cả Mặt trận lẫn Nhà nước.

Nhà nước điều hành quản lý xã hội bằng luật pháp, nhân dân là người thực tiếp thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước. Nhà nước cần tôn trọng và tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ và giám sát Nhà nước.

Trong quá trình ra các nghị quyết về quản lý và điều hành, cơ quan nhà nước các cấp cần lắng nghe những kiến nghị của Mặt trận. Nhà nước căn cứ quy chế tổ chức và cơ chế hoạt động để giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước với Mặt trận. Nhà nước cần thể chế hóa quyền hạn và trách nhiệm của Mặt trận trong việc tham gia quản lý kinh tế - xã hội.

Nhà nước phối hợp với Mặt trận trong việc chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân trong việc vận động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào hành động thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế - xã hội.

Xây dựng và hoàn thiện Quy chế phối hợp công tác giữa cấp ủy đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp theo hướng phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận các cấp trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước.

Quy chế phối hợp công tác phải có quy định rõ ràng, cụ thể tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận thực hiện tốt chức năng giám sát xã hội, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng cơ chế tôn trọng ý kiến của Mặt trận. Cấp ủy và chính quyền cần trao những công cụ, phương tiện cần thiết, đủ mạnh để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội đồng thời phải có cơ chế ràng buộc trách nhiệm đối với các chủ thể chịu sự giám sát, phản biện. Quy định cụ thể nhiệm vụ của người đại diện tổ chức đảng trong Mặt trận các cấp; xác định rõ trách nhiệm của Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc trong việc tham mưu cho cấp ủy cùng cấp về công tác giám sát, phản biện xã hội, về hoạt động tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước.

Chú trọng xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ gắn liền với đổi mới tư duy, đổi mới phương thức hoạt động của công tác Mặt trận

Về tổ chức bộ máy, các tổ chức đoàn thể nhân dân cần được hoàn thiện hơn. Cần phải thực hiện sự phân cấp giữa Trung ương và địa phương trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc; tiếp tục rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp theo hướng tinh gọn, rõ chức năng, nhiệm vụ, không chồng chéo ở cấp trung ương, cấp tỉnh; tổ chức hợp lý bộ máy cấp huyện; mở rộng thành phần cán bộ bán chuyên trách cho cấp xã, phường, thị trấn. Cần tạo cơ chế cho của Mặt trận Tổ quốc ở địa phương tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tuyến dọc, nhằm đảm bảo tính độc lập tương đối so với các cơ quan quyền lực cùng cấp. Mặt trận Tổ quốc các cấp cần thiết phải phát huy tiềm năng các thành viên, các cá nhân tiêu biểu, các Hội đồng tư vấn, cộng tác viên, đoàn viên, hội viên là chuyên gia am hiểu về công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; xây dựng tiêu chuẩn, chức danh, cơ chế, chính sách phù hợp đối với cán bộ Mặt trận làm công tác chuyên trách các cấp...

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tích cực, chủ động nghiên cứu thí điểm để đi đến hoàn thiện tổ chức Ủy ban Mặt trận cấp xã. Trải qua nhiều năm làm thí điểm, đến Đại hội toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ III mới đưa vào Điều lệ và coi như hoàn thiện việc củng cố và xây dựng lại Ủy ban Mặt trận cấp xã. Từ đây, Mặt trận Tổ quốc có đủ 4 cấp. Thành lập Ban Công tác Mặt trận ở cộng đồng dân cư phục vụ cho định hướng đưa công tác Mặt trận về khu dân cư và gia đình. Trong cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", Ban Công tác Mặt trận có nội dung, phương thức hoạt động ngày càng phong phú, đa dạng, góp phần làm cho hoạt động của Mặt trận mạnh lên, gắn bó với nhân dân.

Mặt trận Tổ quốc thành lập các Hội đồng tư vấn của Ủy ban Trung ương, các tổ chức tư vấn và mở rộng lực lượng cộng tác viên ở các cấp Mặt trận, góp phần quan trọng trong việc tập hợp và phát huy trí tuệ, dân chủ, góp phần thực hiện tư vấn, giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước.

Mặt trận Tổ quốc tích cực và chủ động mở rộng các tổ chức thành viên. Sau mỗi kỳ Đại hội, số tổ chức thành viên ngày càng tăng thêm về số lượng và tính đa dạng, làm cho tổ chức Mặt trận thể hiện là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất ở Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc coi trọng cả về số lượng và chất lượng của các thành viên là cá nhân tiêu biểu theo hướng cơ cấu đa dạng các giai tầng xã hội, các nhóm xã hội, các nhân sĩ, các dân tộc, các tôn giáo, các chuyên gia trên các lĩnh vực... đã làm cho Ủy ban Trung ươmg các cấp thể hiện tính đại diện cao, thực sự tiêu biểu và có điều kiện hoạt động thiết thực.

Mặt trận Tổ quốc xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên. Sức mạnh của Mặt trận Tổ quốc biểu hiện ở sức mạnh của các tổ chức thành viên và sự phối hợp thống nhất hoạt động giữa các tổ chức thành viên. Mặt trận Tổ quốc giữ vai trò chủ trì phối hợp và phát huy thế mạnh của từng thành viên, ủng hộ mọi sáng kiến của các tổ chức thành viên.

Ủy ban Mặt trận các cấp được củng cố và mở rộng, thu hút thêm nhiều thành viên mới, tăng thêm số lượng người tiêu biểu, có tín nhiệm về năng lực, phẩm chất đạo đức, nhất là trong các tôn giáo, dân tộc, doanh nhân và người ngoài Đảng. Hệ thống tổ chức, bộ máy của Uỷ ban Mặt trận các cấp cần được tăng cường về số lượng và chất lượng, Hội đồng tư vấn và cộng tác viên được mở rộng về tổ chức và phát huy hiệu quả tham mưu cho Uỷ ban Mặt trận các cấp tham gia xây dựng các nghị quyết, chủ trương, chính sách của cấp uỷ Đảng, chính quyền và các chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Công tác kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư được đầu tư, coi trọng với nhiều giải pháp thiết thực.

Về công tác cán bộ, yêu cầu bức thiết đặt ra đối với hệ thống Mặt trận Tổ quốc các cấp là phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ chuyên trách và lực lượng cộng tác viên làm công tác Mặt trận ngày càng được nâng cao về chất lượng, vững vàng về tư tưởng chính trị; có năng lực, trình độ, kinh nghiệm; có tâm huyết, trách nhiệm và gắn bó với công tác Mặt trận.

Cán bộ Mặt trận, trước hết phải là những người có uy tín, năng lực, biết vận động và tổ chức quần chúng thực hiện các yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng, đồng thời bản thân cán bộ phải là người luôn gương mẫu đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; có lòng nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm cao trước dân, biết thông cảm và chia sẻ với những khó khăn của nhân dân.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Một là, đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về trách nhiệm xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vững mạnh; nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ công dân, sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Hai là, kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các giai tầng xã hội trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Củng cố liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, làm cơ sở xã hội cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và vai trò làm chủ của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong cơ chế chính trị nước ta, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ vững ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân.

Bốn là, nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; xây dựng và nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chú trọng tổng kết các phong trào, các cuộc vận động, tìm ra những nhân tố mới để tham mưu, kiến nghị với Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn chỉnh chủ trương, chính sách về công tác vận động quần chúng; xây dựng lực lượng cốt cán; phát huy vai trò những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng, gia đình, dòng họ trong công tác vận động quần chúng.

Năm là, tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp; xây dựng Quy chế phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong đổi mới nội dung, phương thức hoạt động. Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở, các quy chế phối hợp, ký kết liên tịch, chương trình phối hợp công tác giữa Ủy ban nhân dân với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước về phong cách dân vận: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”; “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, thực sự vì nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân.

Lê Mậu Nhiệm

TS, Phó Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng Cán bộ và Nghiên cứu khoa học, UBTƯ MTTQ Việt Nam

Chú thích:

1. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H.2015, tr.8.

2. Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 51.

Bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Cùng chuyên mục

Tin liên quan
Đọc nhiều
Bình luận nhiều